Hỏi đáp

Những cơn đau đẻ kéo dài là gì

Bạn đang quan tâm đến Những cơn đau đẻ kéo dài là gì phải không? Nào hãy cùng VCCIDATA đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

XEM VIDEO Những cơn đau đẻ kéo dài là gì tại đây.

sự ra đời của marx và ra đời lý thuyết hình thái kinh tế xã hội đã đánh dấu một sự hiểu biết mới và thực sự khoa học về lịch sử loài người. Với quan điểm sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời là cơ sở cho sự hình thành, phát triển và giao lưu giữa các hình thức, theo chúng, xã hội loài người có và sẽ chuyển dần qua 5 hình thái kinh tế – xã hội từ thấp nhất đến cao nhất, trong đó hình thái kinh tế – xã hội là hình thái tiến bộ cuối cùng và lớn nhất trong lịch sử loài người (1). quá trình chuyển đổi giữa các hình thái kinh tế xã hội là thời kỳ quá độ.

quan niệm về 2 giai đoạn của hình thái kinh tế xã hội xã hội chủ nghĩa: giai đoạn thấp tương ứng với cách mạng xã hội chủ nghĩa hay xã hội xã hội chủ nghĩa; giai đoạn cao là chủ nghĩa cộng sản hay xã hội cộng sản, marx và engels cho rằng, từ chủ nghĩa tư bản đến chủ nghĩa cộng sản, có một giai đoạn cách mạng chuyển hóa từ xã hội này sang xã hội khác … một hệ tư tưởng chính trị …, chế độ chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản, và những là “những cơn đau đẻ kéo dài”. Trong bài phê bình chương trình Gothic, Marx viết: “Giữa xã hội tư bản và cộng sản có một giai đoạn cách mạng chuyển đổi từ xã hội này sang xã hội khác. thích ứng với thời kỳ đó là thời kỳ quá độ về chính trị, và tình trạng của thời kỳ đó không thể hơn thời kỳ cách mạng chuyên chính vô sản ”(2). hệ quả là thời kỳ này có đặc điểm: i) do xã hội mới xuất hiện từ xã hội tư bản nên mọi mặt của nó, kinh tế, đạo đức, tinh thần, … vẫn còn dấu vết của xã hội cũ: xã hội tư bản; ii) đó là thời kỳ chuyển đổi sâu sắc và triệt để từ xã hội tư bản sang xã hội xã hội chủ nghĩa, mà công cụ cho việc này là chế độ chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản; iii) do sự khó khăn và phức tạp của việc kiểm soát sinh sản, đây là giai đoạn “sau những cơn đau đẻ kéo dài” (3).

Bạn đang xem: Những cơn đau đẻ kéo dài là gì

quan điểm của bạn là thời kỳ quá độ từ xã hội tư bản sang xã hội cộng sản chỉ xảy ra ở các nước tư bản phát triển nhất, để thực hiện quá trình chuyển đổi này tất cả những gì không thể thiếu để tiến hành cách mạng vô sản và thiết lập chế độ chuyên chính của giai cấp vô sản. đây thực chất là sự chuyển đổi trực tiếp từ các nước tư bản đã phát triển hoàn chỉnh về hình thái kinh tế – xã hội của họ.

áp dụng lý thuyết marx và engels vào việc xây dựng xã hội dân sự Nga sau cuộc cách mạng tháng 10 (1917), v.i. lenin đã phát triển lý luận về chủ nghĩa tư bản từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Theo Người, tăng trưởng kinh tế đi lên cách mạng xã hội là tất yếu và khách quan đối với tất cả các nước đang xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhưng đối với các nước có lực lượng sản xuất phát triển cao thì tăng trưởng kinh tế đi lên chủ nghĩa xã hội có nhiều thuận lợi hơn và có thể ngắn hơn so với các nước đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội. chủ nghĩa tư bản.

theo v.i. Lenin, “không thể nghi ngờ rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản có một thời kỳ quá độ nhất định. thời kỳ đó không thể không bao hàm những đặc điểm hay đặc điểm của cả cơ cấu kinh tế xã hội. Quá trình chuyển đổi đó không thể là một giai đoạn đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang chết và chủ nghĩa cộng sản mới nổi, nghĩa là, giữa chủ nghĩa cộng sản bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn, và chủ nghĩa cộng sản mới xuất hiện nhưng còn rất non nớt ”(4). đây là thời kỳ mà trong lĩnh vực kinh tế “có những bộ phận, bộ phận, mảnh vỡ của cả chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội?” (5). ông cho rằng, cuộc cách mạng kinh tế từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội có bốn đặc điểm sau: (1) xét về mọi mặt của đời sống xã hội, nó do nhiều thành phần không đồng nhất tạo ra. đó là thời kỳ giao thoa và hòa nhập giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội; (2) sự phát triển của cái cũ, của những trật tự cũ, đôi khi lấn át mầm mống của cái mới, cái mới; (3) Về mọi mặt, sự phát triển của giai cấp tư sản nhỏ đã có mặt, một thời kỳ có mâu thuẫn không thể hòa giải giữa kỷ luật nghiêm minh của giai cấp vô sản và chế độ vô chính phủ, tính vô kỷ luật của giai cấp tư sản nhỏ. đây là một trong những đặc điểm của thời kỳ quá độ; (4) Đó là một khoảng thời gian dài, có nhiều khó khăn và phức tạp, bạn cần phải trải qua nhiều thử nghiệm để có kinh nghiệm và hướng đi đúng đắn, tuy nhiên, trong quá trình thử nghiệm bạn có thể phải trả giá cho những sai lầm nghiêm trọng (6) .

i.v. Lê-nin chia quá trình hình thành và phát triển của CNTB thành 3 giai đoạn: (1) thời kỳ “gian lao dai dẳng”, tức là “thời kỳ quá độ” từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; (2) giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, còn gọi là giai đoạn dưới, tương ứng là xã hội xã hội chủ nghĩa; (3) giai đoạn cao hơn của xã hội cộng sản, tức là xã hội cộng sản chủ nghĩa (hay chủ nghĩa cộng sản) đã đạt đến mức độ hoàn thiện về bản chất của chính nó. do đó, “thời kỳ quá độ” là một giai đoạn độc lập, có vị trí tách biệt giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản. , chưa phải là xã hội chủ nghĩa và cũng chưa phải ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản. đây là nhận thức quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, cho phép những người cộng sản xác định rõ đặc điểm, nội dung, nhiệm vụ, mục đích của chiến tranh cách mạng cũng như các giai đoạn tiếp theo sau chiến tranh.

XEM THÊM:  Nón lá được làm từ nguyên liệu gì

tính chất lâu dài, khó khăn và phức tạp của thời kỳ kinh tế được chỉ rõ bởi v.i. Lê-nin và theo Người, nó được quy định, tuỳ thuộc xuất phát từ những tiền đề kinh tế, văn hoá, xã hội khi bước vào thời kỳ kinh tế thời bấy giờ. quốc gia cụ thể. ông viết: “… tất yếu phải có một quá trình chuyển đổi lâu dài và phức tạp từ xã hội tư bản (xã hội càng kém phát triển, càng khắc nghiệt)… sang xã hội cộng sản” (7). Như vậy, các nước chuyển đổi từ chủ nghĩa tư bản cần tiết kiệm kinh tế trong dài hạn, đối với các nước có xuất phát điểm thấp hơn chủ nghĩa tư bản (tiền tư bản) thì cần có nền kinh tế trong dài hạn gấp nhiều lần. điều này hoàn toàn đúng về tính thường xuyên và khách quan: theo tính thường xuyên, công nghiệp ra đời trên cơ sở phát triển theo hướng đỉnh cao của chủ nghĩa tư bản; nhưng về mặt khách quan, chủ nghĩa xã hội cũng có thể ra đời từ điểm xuất phát thấp hơn chủ nghĩa tư bản khi những điều kiện tiên quyết để ra đời xuất hiện và đúng thời điểm. đó là những khả năng, những con đường hiện thực tất yếu nảy sinh trong xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa.

với lương tâm như vậy, v.i. lenin giải thích hai hình thức quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội: thứ nhất, quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ các nước tư bản phát triển. đây cũng được gọi là hình thức chuyển tiếp trực tiếp; thứ hai, quá độ lên chủ nghĩa xã hội của những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. đây còn được gọi là hình thức chuyển tiếp gián tiếp. cả hai hình thức trong tkqd đều đan xen những “mảnh vỡ”, những “yếu tố” của xã hội mới và cũ. những nhân tố mới, tiến bộ còn non trẻ và đang phát triển, nhân tố cũ lạc hậu, yếu kém cố gắng giành lại ảnh hưởng trong lòng xã hội mới, tạo nên một thời kỳ đấu tranh lâu dài giữa nhân tố cũ và mới. riêng đối với hình thức thứ hai, cuộc cách mạng kinh tế sẽ diễn ra khá lâu dài, phải trải qua nhiều bước thích hợp với nhiều công việc bao gồm những nội dung cơ bản của chủ nghĩa tư bản từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời phải đạt được những thành tựu cơ bản. điều này được lenin so sánh như “xây những cây cầu nhỏ” để từng bước xây dựng xã hội dân sự.

sự kết thúc của chính sách cộng sản thời chiến và sự ra đời của chính sách kinh tế mới (nep) (1921) ở Nga bởi v.i. Lê-nin là người vận dụng sáng tạo và hợp pháp chủ nghĩa Mác vào một hoàn cảnh cụ thể. Liên bang Nga, một quốc gia tiền tư bản đang vươn lên chủ nghĩa cộng sản.

Ở Việt Nam, quá trình vận dụng, bổ sung và phát triển một cách sáng tạo các lý luận phát triển kinh tế đi lên chủ nghĩa xã hội được thể hiện ở mọi giai đoạn với những nhận thức chân thực và rõ ràng hơn.

trước tiên, về tính chất lâu dài, khó khăn và phức tạp của sự phát triển kinh tế trong nền kinh tế hiện đại

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ con đường cách mạng nước ta là “Cách mạng tư sản dân quyền, thổ địa cách mạng để đi lên xã hội”. chủ nghĩa cộng sản ”(7). Về nhiệm vụ tiến lên xã hội cộng sản chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, do điều kiện cụ thể của nước ta phải “tiến lên chủ nghĩa xã hội, không phải một sớm một chiều” mà phải làm từng bước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. . tuy nhiên, sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), do chủ quan, tự nguyện và mong muốn nhanh chóng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Hội nghị toàn thể lần thứ 13 khóa II (19/12/1957), đã nhấn mạnh đến quá độ trực tiếp. luật xa gần. của quá trình chuyển đổi dần dần, từng bước (8). Quan điểm này được duy trì trong thời kỳ trước đổi mới và đã đạt được những thành tựu nhất định trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhất là trong việc huy động sức người, sức của trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. vì công cuộc cứu nước nhưng lại được duy trì quá lâu nên nảy sinh những tiêu cực. va chạm. Cuối những năm 1970, đầu những năm 1980, Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội nghiêm trọng.

Nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội đã rút ra 4 bài học kinh nghiệm, trong đó nêu rõ “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan” (9); và nhận xét rằng cách mạng kinh tế ở nước ta “là thời kỳ chuyển biến cách mạng sâu sắc, toàn diện và triệt để nhằm xây dựng ngay từ đầu một chế độ xã hội mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến ​​trúc ưu việt” (10). nhận thức này đã khắc phục được tư duy chủ quan, vội vàng và đơn giản về cân đối tiền tệ. Tại Đại hội VII năm 1991, Đảng ta chỉ rõ, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, “chúng ta đã phạm sai lầm chủ quan, tự nguyện, vi phạm quy luật khách quan: vội vàng cải tạo xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần; đôi khi thúc đẩy quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng; duy trì cơ chế quản lý kinh tế quan liêu, bao cấp quá lâu;… ”(11). Cương lĩnh nêu rõ, quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong “tình hình quốc tế có những thay đổi to lớn và sâu sắc”, vì vậy cần phải trải qua một quá trình lâu dài với nhiều giai đoạn.

Tổng kết 15 năm đổi mới, Đại hội IX cho rằng, tăng trưởng kinh tế ở nước ta là một cuộc chạy đua hết sức khó khăn, phức tạp, phải trải qua một thời kỳ lâu dài với nhiều giai đoạn, nhiều hình thức tổ chức kinh tế nhất thời. Cương lĩnh năm 2011 khẳng định: “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi to lớn và sâu sắc” (12), trong đó đặc điểm nổi bật của thời đại là “các nước có trình độ xã hội và phát triển cao cùng tồn tại, hợp tác và đấu tranh, và cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội tuy gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng lịch sử sẽ có những bước tiến mới, nhân loại nhất định tiến lên chủ nghĩa xã hội ”(13).

XEM THÊM:  TẠI SAO STRESS LẠI TĂNG CÂN

thứ hai, về nội dung của quá trình chuyển đổi từ chủ nghĩa tư bản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa

Trước Đại hội IX (2001), các văn kiện của Đảng nhấn mạnh rằng việc Việt Nam tiến lên cách mạng xã hội “đã bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” hoặc “không trải qua giai đoạn cách mạng”. nhận định này dẫn đến tư duy chủ quan, tự nguyện, tách rời hoàn toàn mối quan hệ giữa các hình thái kinh tế xã hội và chế độ xã hội, phủ nhận những thành tựu mà loài người đã đạt được qua các chế độ xã hội, hình thái kinh tế xã hội trước đây. trên thực tế, điều này đã cản trở sự phát triển của xã hội.

tại Đại hội IX, trên cơ sở đổi mới tư duy và rút kinh nghiệm, Đảng ta khẳng định, muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhân loại cần tiếp thu những thành tựu về mọi mặt mà nhân loại đã đạt được trong các hệ thống xã hội trước đây. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là quá độ “vượt qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất và kiến ​​trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất và xây dựng nền kinh tế hiện đại ”(14). đây thực chất là một bước phát triển mới trong nhận thức về việc tránh chế độ tbcn. Nhận thức này đã được khẳng định trực tiếp trên hai phương diện: Thứ nhất, trên cơ sở lý luận hình thái kinh tế – xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua việc xác lập địa vị thống trị trong quan hệ sản xuất và kiến ​​trúc thượng tầng của Trung Quốc. của dòng chảy và tiến bộ lịch sử, nền văn minh hiện đại hơn công nghệ hiện đại một bước, vì vậy cần tiếp thu và kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được trong thế giới hiện đại.

Thực tiễn, Đảng ta đã thể hiện rõ nhận thức của mình rằng, bỏ qua chế độ cộng sản là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột; bỏ qua thể chế chính trị và luật pháp không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, thậm chí không bỏ qua những thành tựu và giá trị văn minh nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển công nghiệp.

Xem thêm: Các tiềm lực của đất nước là gì

thứ ba, về các mục tiêu chung và cụ thể của giai đoạn đầu tiên của mực nang

Đến năm 1975, chủ trương và phương hướng do Đại hội IV xác định là nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền thống trị tập thể của nhân dân lao động, đồng thời tiến hành 3 cuộc cách mạng (15). cuộc cách mạng kỹ thuật là then chốt; công nghiệp hóa xã hội là nhiệm vụ trung tâm của toàn bộ nền kinh tế đi lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng sở hữu tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, v.v. xác định mục tiêu tổng quát trong giai đoạn đầu của cách mạng kinh tế là: “ổn định mọi mặt kinh tế – xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết để đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn tiếp theo” (16). , thực tế cho thấy, việc chủ quan, chỉ muốn xây dựng chủ trương, mục tiêu mà không tuân theo quy luật, thiếu khách quan đánh giá tình hình cụ thể đã mang lại những kết quả không mong muốn.

Trên cơ sở nhìn nhận lại bản chất, đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế, đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Cương lĩnh năm 1991 xác định rõ mục tiêu tổng quát khi kết thúc cuộc cách mạng kinh tế ở Việt Nam là “Về cơ bản xây dựng xong nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến ​​trúc thượng tầng chính trị, tư tưởng và văn hóa phù hợp, đưa nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh” (17). Trong đó, mục tiêu của giai đoạn đầu tăng trưởng kinh tế nước ta là: “Thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt trạng thái ổn định, không ngừng, tạo thế phát triển nhanh trong giai đoạn tiếp theo ”(18).

tổng kết việc thực hiện các mục tiêu của Đại hội VI, chương trình năm 1991 và căn cứ vào tình hình đất nước hiện nay, Đại hội VI (1996) khẳng định nước ta đã “ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng”, kết thúc giai đoạn đầu và bắt đầu bước vào giai đoạn tiếp theo của tăng trưởng kinh tế đi lên chủ nghĩa xã hội với nội dung chủ yếu là thúc đẩy kinh tế – xã hội đất nước, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, điều này cũng đã được nhấn mạnh một lần nữa trong Đại hội ix ( 2001) và đại hội x (2006). thực chất đây là việc thực hiện mục tiêu chung, đồng thời là việc trực tiếp thực hiện mục tiêu giai đoạn đầu của cuộc cách mạng kinh tế mà Cương lĩnh đã xác định.

phát triển nhanh và bền vững để sớm chấm dứt khủng hoảng kinh tế, với mục tiêu tổng quát là “xây dựng cơ bản nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến ​​trúc thượng tầng chính trị, tư tưởng và văn hóa phù hợp, tạo nền tảng đưa nước ta ngày càng giàu mạnh, hạnh phúc quốc gia”. nước xã hội chủ nghĩa ”(19) là định hướng được đại hội xi (2011) đánh dấu. Do đó, đến giữa thế kỷ 20, Việt Nam phải phấn đấu trở thành “nước công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (20). Mục tiêu này đã được Đại hội XII (2016) tiếp tục khẳng định, đồng thời chỉ rõ 12 nhiệm vụ tổng quát (19). Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới đây tiếp tục làm rõ quan điểm, mục tiêu chung và nhiệm vụ cụ thể cho từng giai đoạn hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. quốc gia.

XEM THÊM:  Mục tiêu của cuộc đời bạn là gì

thứ tư, về mô hình của ngành xây dựng; thể chế kinh tế; mô hình nhà nước trong giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế vươn lên trong nền kinh tế hiện đại

từ 6 suất diễn trong chương trình năm 1991 (22), đến 8 suất diễn trong đại hội x (2006) (23) và 8 suất diễn trong cương lĩnh 2011 (24), mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang tập trung xây dựng, theo hướng đã được bổ sung, toàn diện và hoàn thiện hơn. trong đó, đặc trưng chung là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trong số những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đã tập trung xây dựng và hướng tới, di sản những thành tựu mà xã hội loài người đạt được dưới thời kỳ hiện đại thể hiện rõ nét ở những đặc điểm của thể chế kinh tế, mô hình kinh tế và nhà nước, (hai lĩnh vực quan trọng, ảnh hưởng quyết định nhất đến cấu trúc của một hình thái kinh tế xã hội).

việc đổi mới thể chế kinh tế đã được đại hội chính thức đề xuất thông qua sự cần thiết phải quay trở lại quan điểm của v.i. Lê-nin về “nền kinh tế có cấu trúc gồm nhiều thành phần” trong chu kỳ kinh doanh. quan điểm này đã được bổ sung, phát triển qua nhiều kỳ đại hội và được Đại hội XII khẳng định cần: “Tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành đầy đủ, đồng bộ, hiệu quả theo quy luật của kinh tế thị trường ”(25),“ bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước ”(26); được Nghị quyết Trung ương 5 khóa X nhấn mạnh là“ nhiệm vụ quan trọng, cấp bách và lâu dài ”. . nhiệm kỳ của toàn bộ hệ thống chính trị “,” là nhiệm vụ chiến lược, là khâu quan trọng, tạo động lực thúc đẩy toàn bộ hệ thống chính trị phát triển “… (27).

Ngoài ra, quan niệm về mô hình nhà nước của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta tập trung xây dựng đã được nhận thức, bổ sung và phát triển qua nhiều kỳ đại hội, từ khái niệm “dân chủ” đến khái niệm “hệ thống chính trị” đã được chính thức đưa vào Đảng. chính trị. văn kiện tại phiên họp toàn thể lần thứ 3 khóa VI (1989) về khái niệm “Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân” (28), Cương lĩnh năm 1991, và khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” được chính thức khẳng định tại Đại hội X (2006) là bước phát triển trong nhận thức về mô hình nhà nước ở Việt Nam. Điều này đã được khẳng định thêm tại Đại hội XII (2016), theo đó, cần phải ” hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa bằng pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và định hướng phát triển của nhà nước, tạo môi trường thuận lợi cho sáng tạo, phát huy dân chủ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân ”(29).

Như vậy, từ quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về chủ nghĩa xã hội đi lên chủ nghĩa xã hội, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhận thức của Đảng ta về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng rõ nét. Đây là kết quả của quá trình đổi mới tư tưởng, tổng kết thực tiễn, vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong từng thời kỳ phát triển.

____________________

bài báo trên tạp chí lý luận chính trị số 12-2017

(1) năm hình thái kinh tế xã hội theo marx và engels: hình thái kinh tế xã hội cộng sản nguyên thủy (công xã nguyên thủy); kinh tế xã hội hình thức chiếm hữu nô lệ; hình thái kinh tế xã hội phong kiến; hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa và hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa.

<3

(4), (5) v.i.lenin: toàn tập, t.39, nhà xuất bản tiến bộ, moscow, 1977, tr.309-310, 362.

(6) xem: gs, pts nguyen trong standard, pts pham van duc, pts ho si quy (co-editor), các quan điểm cơ bản của marx – ph. engels – v.i. Lê-nin về xã hội xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.162-163.

Xem thêm: Tại sao không uninstall được

(7) v.i.lenin: toàn tập, t.44, nhà xuất bản tiến bộ, moscow, 1977, tr.197.

(8) xem: địa chỉ: văn kiện hội nghị trung ương 13, ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ hai (tháng 12 năm 1957).

(9), (10) văn bản: văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, nhà xuất bản sự thật, Hà Nội, 1986, tr.30, 41.

<3

(12), (13), (19), (20), (24) văn bản: văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, xã luận chính trị toàn quốc, Hà Nội, 2011, tr.67, 69, 71, 71 , 70.

(14) địa chỉ: văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, xã luận chính trị toàn quốc, Hà Nội, 2011, tr.70.

(15) dcsvn: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1977, tr.67.

(16) văn bản: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986, tr.42.<3 14, 14, 5, 5.

(21), (25), (26), (29) xem: địa chỉ: văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, trụ sở đảng, hà nội, 2016, tr.77-80, 20, 25, 21.

(23) Xem: Địa chỉ: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.68.

(27) xem: địa chỉ: độ phân giải số. Ngày 03/6/2017, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. xã hội chủ nghĩa.

Xem ngay: Tại sao nhũ hoa bị thâm đen

của nguyen duong hung

viện chủ nghĩa xã hội khoa học,

học viện chính trị quốc gia thành phố hồ chí minh

Xem ngay: Tại sao nhũ hoa bị thâm đen

Vậy là đến đây bài viết về Những cơn đau đẻ kéo dài là gì đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website VCCIDATA.COM.VN

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button