Hỏi đáp

Tội hành hạ người khác theo quy định tại điều 140 Bộ luật hình sự

Bạn đang quan tâm đến Tội hành hạ người khác theo quy định tại điều 140 Bộ luật hình sự phải không? Nào hãy cùng VCCIDATA đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

XEM VIDEO Tội hành hạ người khác theo quy định tại điều 140 Bộ luật hình sự tại đây.

tội hành hạ người khác (điều 110) bộ luật hình sự 1999.

theo điều 140, bộ luật hình sự năm 2017 quy định tội hành hạ người khác như sau:

Bạn đang xem: Tội hành hạ người khác là gì

1. Người nào đối xử tàn nhẫn, làm nhục người phụ thuộc nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) dành cho người dưới 16 tuổi, phụ nữ biết mình đang mang thai, già yếu, ốm yếu hoặc những người khác không có khả năng tự vệ;

b) Gây rối loạn hành vi, tâm thần của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên;

c) dành cho 02 người trở lên.

Như vậy, đối với tội hành hạ người khác, mức án tù cao nhất lên đến 3 năm.

Xem ngay: How are you doing là gì? Hội thoại mẫu hỏi thăm sức khoẻ

nhận xét:

tra tấn là hành vi của một người đối xử tàn nhẫn (lặp đi lặp lại) một cách có hệ thống đối với những người phụ thuộc (nhiều lần) gây đau đớn về thể xác và tinh thần cho người bị lạm dụng.

a. dấu hiệu của tội phạm

1. dành cho tội phạm

Người phạm tội thực hiện các hành vi tàn ác đối với những người phụ thuộc của mình, chẳng hạn như đánh đập và các hành vi bạo lực khác, được lặp đi lặp lại một cách có hệ thống. việc lạm dụng thường xuyên lặp lại và kéo dài hàng ngày, hàng tuần, thậm chí hàng tháng, hàng năm. Hành vi này không chỉ gây đau đớn về thể xác mà còn gây đau đớn về tâm lý cho người bị hành hạ, nếu hành vi này gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người bị hành hạ thì chỉ là thương tích nhẹ, không đến mức khó tránh khỏi tội gây thương tích hoặc gây thiệt hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự.

Về hành vi khách quan, tội hành hạ người khác cũng giống với hành vi khách quan của tội cưỡng bức chết người, chỉ khác ở chỗ: trong tội hành hạ người khác, người bị hành hạ không tự sát, do đó. không thể nói tội hành hạ người khác là hành vi khách quan của tội giết người.

Xem thêm: Tại sao phải tăng vốn điều lệ

2. bởi nạn nhân

nạn nhân phải là người có quan hệ phụ thuộc với kẻ xâm hại, nếu bị xâm hại nhưng không có quan hệ phụ thuộc với kẻ xâm hại thì kẻ xâm hại sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hành hạ người khác, nhưng tùy hành vi cụ thể thì người thực hiện hành vi đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 121 Bộ luật hình sự.

quan hệ phụ thuộc giữa người phạm tội và người bị hại là quan hệ phụ thuộc về vật chất và tinh thần. Mối quan hệ này bắt nguồn từ quan hệ việc làm (sếp với nhân viên), quan hệ thầy trò, quan hệ tôn giáo, quan hệ nhân viên – chủ, nhất là đối với một số khách sạn, nhà hàng tư nhân … đối với quan hệ hôn nhân (vợ chồng), quan hệ huyết thống ( cha mẹ với con, ông bà với cháu), quan hệ cha mẹ (cha mẹ nuôi với con nuôi, cha mẹ đỡ đầu với người thụ hưởng, đỡ đầu) không phải là đối tượng của tội này mà là đối tượng của tội ngược đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc những người đã có công nuôi dưỡng mình theo điều kiện quy định tại Điều 151 của Bộ luật hình sự.

XEM THÊM:  Đau Lưng Khó Thở Là Bệnh Gì, Có Nguy Hiểm Đến Tính Mạng Không? - Tâm Minh Đường

Thông thường, người bị hại trong tội phạm này, bị bạo hành, bạo hành nhưng không dám kêu khóc, không phản ứng mà sẵn sàng chịu đựng, họ chỉ tố cáo khi không còn quan hệ phụ thuộc hoặc bị người khác tố cáo.

p>

b. vụ án hình sự đặc biệt

1. các trường hợp phạm tội phổ biến

Đây là vụ án chỉ có một người bị hại và nạn nhân không phải là người già, trẻ em, phụ nữ có thai hoặc người khuyết tật. người phạm tội trong trường hợp này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 110 Bộ luật hình sự với khung hình phạt từ cải tạo không tù đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. so với Điều 111 Bộ luật hình sự năm 1985 thì tội này không nặng hơn cũng không nhẹ hơn (Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định khung hình phạt đối với tất cả các tội phạm, không phân biệt các trường hợp phạm tội như Bộ luật hình sự năm 1999).

2. phạm tội đối với người già, trẻ em, phụ nữ có thai hoặc người khuyết tật (chữ a, tiểu mục 2, điều 110)

đây là vụ án hình sự mà người bị hại là người cần được bảo vệ đặc biệt, bộ luật hình sự năm 1999 xét các tội này là nghiêm trọng hơn nên phải quy định khung nặng hơn, xử phạt từ một năm đến ba năm tù. tra tấn người già

Ngược đãi người cao tuổi là trường hợp kẻ xâm lược đối xử tàn nhẫn với những người phụ thuộc lớn tuổi của kẻ xâm lược.

Việc quy định tội đối với người cao tuổi là tội nặng hơn xuất phát từ chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta là bảo vệ, chăm sóc người cao tuổi, vừa là chuẩn mực đạo đức xã hội, vừa là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. tội phạm đối với người cao tuổi, tội phạm hiếp dâm người mà lẽ ra phải kính trọng, hiếp dâm người bị hạn chế năng lực chống lại những hành vi xâm phạm lợi ích của mình, đồng thời vi phạm đạo đức xã hội, truyền thống dân tộc, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Người cao tuổi là người phải đến một độ tuổi nhất định. nếu phạm tội đối với người dưới độ tuổi đó thì không bị coi là tội đối với người cao tuổi. Theo tài liệu y sinh học quốc tế, những người từ 60 đến 74 tuổi là người cao tuổi, từ 75 đến 89 tuổi là người cao tuổi, người từ 90 tuổi trở lên là người cao tuổi12. Tuy nhiên, đó là quy định sinh học, còn về mặt pháp lý và thực tiễn, các tòa án đã coi người từ 60 tuổi trở lên là người cao tuổi.

XEM THÊM:  Vé số cặp nguyên là gì? Tỷ lệ trúng khi mua vé số cặp nguyên?

Hoàn cảnh phạm tội đối với người già cũng không phải là hoàn cảnh lương tâm chủ quan của người phạm tội. do đó, không nhất thiết phải hỏi người phạm tội mà biết người mình xâm phạm là người cao tuổi mới được coi là phạm tội đối với người cao tuổi, có phải phạm tội đối với người cao tuổi không?

lạm dụng trẻ em

ngược đãi trẻ em là trường hợp người phạm tội tàn bạo người phụ thuộc của mình và người phụ thuộc là trẻ em

theo quy định tại Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em là người dưới 16 tuổi.

Tội xâm hại trẻ em được coi là tội nặng hơn, không chỉ xét trên quan điểm bảo vệ trẻ em là bảo vệ tương lai của đất nước, bảo vệ những người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà còn bảo vệ những người không có khả năng tự vệ.

Xem ngay: Bài 24. Biển và đại dương (Địa lý 6) – ÔN THI ĐỊA LÝ – TOLD Channel

Khi áp dụng án lệ này, cần lưu ý những điểm sau:

– việc xác định tuổi của người được xác định là trẻ em là yêu cầu bắt buộc của các cơ quan tố tụng. trong hồ sơ phải có giấy khai sinh của nạn nhân là trẻ em, nếu không có giấy khai sinh thì phải có giấy tờ chứng minh nạn nhân là người dưới 16 tuổi. tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp khó xác định được tuổi của người bị hại, kiểm sát viên đã áp dụng mọi biện pháp nhưng vẫn không xác định được tuổi của người bị hại. vậy trong trường hợp này cách tính tuổi của người bị hại như thế nào? Hiện nay có hai luồng ý kiến ​​trái chiều nhau: thứ nhất là nếu không biết ngày sinh thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó, nếu không biết tháng sinh thì lấy tháng cuối cùng của năm đó, sự tính toán này là 0. Lợi ích cho người vi phạm. ý kiến ​​thứ hai cho rằng, nếu không rõ ngày tháng năm sinh thì nên lấy ngày mồng một của tháng đó; nếu không biết tháng sinh thì lấy tháng cuối cùng của năm đó, cách tính này có lợi cho người phạm tội. để có cơ sở xác định độ tuổi của nạn nhân, nhất là nạn nhân là trẻ em, các cơ quan nhà nước cần có hướng dẫn cụ thể.

– Tội phạm đối với trẻ em không phải là hoàn cảnh lương tâm chủ quan của người phạm tội mà là hoàn cảnh khách quan, do đó người phạm tội không nhất thiết phải nhận thức được hoặc buộc họ phải nhận thức được tội phạm, nếu đối tượng đó. đối tượng xâm phạm là trẻ em thì sẽ được coi là một tình tiết tăng nặng, nhưng chỉ cần người phạm tội được xác định là trẻ em thì người phạm tội đã được coi là phạm tội đối với trẻ em.

XEM THÊM:  Trầm cảm tiếng Trung là gì? Tên các bệnh tâm lý & triệu chứng

tra tấn phụ nữ mang thai.

tra tấn phụ nữ có thai là trường hợp người phạm tội đối xử tàn nhẫn với người phụ thuộc của mình mà người phụ thuộc là phụ nữ có thai.

Như trong trường hợp xâm hại trẻ em, hành vi xâm hại phụ nữ có thai không phải là hành vi ý thức chủ quan của kẻ xâm hại, do đó kẻ xâm hại không bắt buộc phải biết người mình đang hành hạ đang mang thai. trường hợp phạm tội này khác với trường hợp “giết phụ nữ khi biết đang có thai” được dự báo tại điểm b tiểu mục 1 Điều 93 Bộ luật hình sự. do đó, nhà lập pháp chỉ quy định “đối với phụ nữ có thai” chứ không quy định “được biết là có thai”. do đó, chỉ cần xác định người phụ nữ bị xâm hại đang mang thai là người phạm tội thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm a tiểu mục 2 Điều 110 Bộ luật hình sự.

Khi áp dụng tình tiết tăng nặng này đối với người phạm tội cần lưu ý một số điểm sau:

người phụ nữ đang mang thai, bất kể đó là tháng nào;

Việc xác định xem một phụ nữ có mang thai hay không không nhất thiết phải được xác định bởi bác sĩ hoặc chuyên gia;

tra tấn người khuyết tật

tra tấn người tàn tật là đối xử tàn nhẫn đối với người phụ thuộc của họ, mà người phụ thuộc là người tàn tật, người tàn tật là người khuyết tật và bị tàn tật, không có khả năng tự vệ như những người bình thường khác, chẳng hạn như người bị cụt, bại liệt, mù, điếc và bị câm… tuy nhiên không bị coi là hành hạ người tàn tật nếu người bị xâm hại chỉ có một khuyết điểm nhỏ không ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, họ vẫn có khả năng tự vệ như người bình thường. chẳng hạn, một người bị thương tật với tỷ lệ 12%, thậm chí 21% nhưng vẫn khỏe mạnh.

3. phạm tội với nhiều người (chữ b, tiểu mục 2, điều 110)

lạm dụng nhiều lần là trường hợp đối xử tàn nhẫn với hai hoặc nhiều người phụ thuộc. có thể cả hai hoặc nhiều người bị lạm dụng cùng một lúc hoặc có thể không cùng một lúc. Ví dụ: su tu t là chủ nhà hàng karaoke có hành vi lạm dụng làm bà chủ nhà hàng khiến bà này bỏ chạy khỏi nhà hàng, nhưng bà không dám tố giác tội phạm của t. sau đó, anh ta tiếp tục lạm dụng bà. tran kim d và bị bà tố cáo. d về tội ác của mình trước cơ quan pháp luật. Trong quá trình điều tra, người ta phát hiện anh ta tiếp tục hành hạ cô, vì vậy anh ta bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều khoản tại điểm b, tiểu mục 2, điều 110.

Xem ngay: How are you doing là gì? Hội thoại mẫu hỏi thăm sức khoẻ

Theo bộ luật hình sự năm 2015, tội hành hạ người khác được quy định tại điều 140.

Xem ngay: How are you doing là gì? Hội thoại mẫu hỏi thăm sức khoẻ

Vậy là đến đây bài viết về Tội hành hạ người khác theo quy định tại điều 140 Bộ luật hình sự đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website VCCIDATA.COM.VN

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button