Hỏi đáp

Vòng đời của sán lá gan là gì

Bạn đang quan tâm đến Vòng đời của sán lá gan là gì phải không? Nào hãy cùng VCCIDATA đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

XEM VIDEO Vòng đời của sán lá gan là gì tại đây.

sán lá gan lớn

Sán lá gan lớn có 2 loài là sán lá gan lớn và sán lá gan lớn và sán lá gan lớn gigantica, gây bệnh chủ yếu ở động vật ăn cỏ như trâu, bò … và gây bệnh cho người.

đặc điểm vật lý.

sán lá gan trưởng thành hình lá, thân dẹt, mép mỏng, kích thước 20 – 30 mm x 5 – 12 mm, màu trắng hồng hoặc xám đỏ, miệng nhỏ hình chén, cỡ 1 mm, bụng to. hơn, 1,6 mm ở phía trước của cơ thể. thực quản ngắn, ống phụ khá dài và có nhiều nhánh nhỏ. tinh hoàn nằm sau buồng trứng và vòi trứng.

Vòng đời của sán lá gan là gì

Bạn đang xem: Vòng đời của sán lá gan là gì

hình 11.18: dạng sán lá gan trưởng thành.

Trứng sán lá gan lớn có kích thước trung bình 140 x 80 µm (dao động từ 130 -150 µm x 60 – 90 µm, đôi khi lên đến 152 – 198 µm x 72 – 94 µm, kích thước trung bình 172,3 x 89,6 µm (tomimura và nishitani, 1976).

đặc điểm sinh học.

sinh lý học:

sán lá gan lưỡng tính. con người nói chung không phải là vật chủ thích hợp cho sán. phần lớn sán lá cư trú trong nhu mô gan và chết mà không vào đường mật. một số con sán ký sinh vào đường mật và đẻ trứng ở đó.

Sán non có thể di chuyển ra ngoài và trú ngụ ở các cơ quan khác, gây ra hiện tượng ngoài tử cung. sán lá bị mất không bao giờ trưởng thành.

vòng đời:

Các con sán trưởng thành đẻ trứng, trứng theo ống mật đến ruột và được thải ra ngoài theo phân. Khi trứng rơi xuống nước, trứng sán lá gan lớn sẽ nở thành ấu trùng có lông (magicidium), nhiệt độ thích hợp để trứng nở thành magicidium là 15-25 ° C và mất 9-21 ngày.

ấu trùng có lông (magicidium) ký sinh trên vật chủ thứ cấp 1, một loài ốc thuộc chi limnea. Ở ốc, ấu trùng phát triển qua giai đoạn bào tử, hai giai đoạn bay, và sau đó hình thành ấu trùng đuôi (cercariae) mất khoảng 6 – 7 tuần ở 20 – 25 ° C (56 – 86 ngày ở 15 ° C); 48 – 51 ngày ở 20 ° c và 38 ngày ở 25 ° c). cercariae thoát ra khỏi ốc và bám vào thực vật thủy sinh thích hợp để hình thành nang ấu trùng (metacercariae) hoặc bơi tự do trong nước (khoảng 1 giờ). vật chủ chính (người hoặc trâu, bò…) ăn thực vật thủy sinh hoặc uống nước có chứa ấu trùng này sẽ bị nhiễm sán lá gan lớn. metacercaria xâm nhập vào vật chủ chính qua đường miệng, sau 1 giờ chui ra khỏi kén và xuyên qua thành ruột, sau 2 giờ xuất hiện trong ổ bụng, qua màng đệm vào gan, đến gan vào ngày thứ 6 sau khi trồi ra khỏi kén, sau đó chúng di chuyển ký sinh trong đường mật. Thời gian từ khi nhiễm bệnh đến khi trứng xuất hiện trong phân tùy theo vật chủ, ở cừu và gia súc là 2 tháng (6-13 tuần), ở người là 3-4 tháng. thời gian này còn phụ thuộc vào số lượng sán (sán càng dài thì thời gian trưởng thành càng lâu). Tuổi thọ của sán lá gan người từ 9 đến 13,5 năm.

Hình 11.19: vòng đời của sán lá gan

1. trứng từ ống mật được thải ra ngoài theo phân.

2. trứng rơi vào môi trường nước;

3.miracidium nở ra từ trứng.

4. ốc sên truyền bệnh và ấu trùng phát triển trong ốc sên.

XEM THÊM:  Cách khắc phục lỗi This account has been suspended, lỗi website không

5. cercaria rời khỏi ốc bơi trong nước;

6.metacercaria ở thực vật thủy sinh.

7, 8. động vật ăn cỏ hoặc người ăn ấu trùng sán dây từ thực vật thủy sinh hoặc nước, ấu trùng vào dạ dày, qua đường tiêu hóa và khoang bụng, sau đó vào gan và ký sinh ở đường mật.

Vị trí ký sinh: sán lá gan lớn chủ yếu ký sinh ở gan, nhưng thường ký sinh ở các vị trí ngoài tử cung như: trong đường tiêu hóa, dưới da, tim, mạch máu phổi và màng phổi, trong hốc mắt, thành bụng, trong ruột thừa, trong tuyến tụy, trong lá lách, trong các nút bẹn, trong các nút cổ tử cung, trong cơ xương, trong mào tinh hoàn.

vai trò gây bệnh.

Khi bị nhiễm sán lá gan lớn, tình trạng bệnh lý của một người phụ thuộc vào số lượng sán, thời gian nhiễm trùng, vị trí của ký sinh trùng và phản ứng của bệnh nhân.

Khi nang ấu trùng (metacercaria) xâm nhập vào thành ruột hoặc tá tràng gây chảy máu và viêm, các tổn thương có thể không gây ra triệu chứng.

Xem ngay: Cóc vào nhà là điềm gì và ý nghĩa trong phong thủy? | Mogi.vn

giun sán xâm nhập và cư trú ở gan, gây ra những thay đổi bệnh lý. quá trình ký sinh gây ra sự phá hủy các mô gan lan rộng với các tổn thương chảy máu và các phản ứng viêm và miễn dịch. giun thường trú đôi khi chết, tạo ra mô hoại tử và tổn thương gan có thể dẫn đến sẹo (Smithers, 1982). sán dây có thể xâm nhập vào đường mật, nơi chúng có thể sống trong vài năm gây viêm nhiễm dẫn đến xơ hóa, dày lên và giãn ra, và có thể chảy máu (chen & amp; mott, 1990).

Các triệu chứng bệnh lý khi có giun ký sinh trong gan như: các triệu chứng lâm sàng chính theo thứ tự chung là đau hạ sườn phải, sốt, sụt cân, khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, đau vùng thượng vị, ngứa.

Các ổ sán giống như sán lá gan lớn di chuyển ra ngoài gan (ra khỏi khớp gối, dưới da lồng ngực, áp xe đại tràng, áp xe ổ bụng và cẳng chân …).

các dấu hiệu xét nghiệm đặc biệt quan trọng như elisa (+) với kháng nguyên sán lá gan lớn, siêu âm gan có tổn thương âm tính hỗn hợp, tổn thương giả hoặc áp xe gan trên phim chụp cắt lớp vi tính, tăng bạch cầu ái toan, tìm thấy một số trứng sán lá gan trong phân.

chẩn đoán.

Các biểu hiện lâm sàng thông thường là sốt, đau quặn gan mật, triệu chứng viêm đường mật, u-viêm gan, và có liên quan đến tiền sử ăn các loại rau thủy sản sống (cải xoong và các loại khác).

Chẩn đoán xác định của bệnh sán lá gan lớn là xét nghiệm phân và đáp ứng miễn dịch (kỹ thuật miễn dịch học được sử dụng cho tất cả các giai đoạn của bệnh, nhưng tốt nhất là cấp tính). Ngoài ra, một số hỗ trợ chẩn đoán như

cũng có thể được sử dụng.

chụp x-quang, siêu âm, chụp cắt lớp vi tính (quét ct), chụp cộng hưởng từ (mri) (esteban và cộng sự, 1998), công thức máu (tăng bạch cầu ái toan).

Xét nghiệm phân tìm trứng sán lá gan lớn là phương pháp chẩn đoán chính, nhưng điều quan trọng là phải lưu ý những vấn đề sau:

XEM THÊM:  Vòng đời sản phẩm và những điều doanh nghiệp cần biết

Giun sán chưa trưởng thành (con người nói chung không phải là vật chủ thích hợp), vì vậy, sán không đẻ trứng vào thời điểm này và không thể tìm thấy trứng trong phân.

giai đoạn cấp tính: giai đoạn mới nhiễm bệnh, triệu chứng lâm sàng rõ ràng, nhưng chưa đủ thời gian cho sán đẻ trứng nên xét nghiệm phân chưa tìm thấy trứng, thường sau 3 đến 4 tháng kể từ khi ăn phải ấu trùng.

Rụng trứng thất thường: Ở người, sán lá gan lớn đẻ trứng và rụng thất thường không rõ nguyên nhân. tuy nhiên, trứng có thể khan hiếm hoặc thậm chí không có trong một số mẫu phân vào những thời điểm khác nhau.

Sán lá gan: sẽ không bao giờ có trứng trong phân.

điều trị.

nhiều loại thuốc có hiệu quả trong điều trị bệnh sán lá gan lớn ở người, chẳng hạn như:

emetine, dehydroemetine: liều 1mg / kg x 10-14 ngày.

bithionol: liều 30 – 50 mg / kg / ngày, uống trong 20 – 30 ngày, cách ngày và chia làm 3 lần.

hexachloroparaxylol: liều 60 mg / kg / ngày x 5 ngày hoặc 50 – 80 mg / kg chia 3 lần uống trong 7 ngày liên tục.

nichlorophane: 2 mg / kg / ngày chia làm 2 lần x 3 ngày hoặc 0,5 mg / kg x 2 lần / ngày x 3 ngày.

mebendazole: uống 1,5 g / ngày trong 13-28 ngày, ít tác dụng trong bệnh mãn tính, có thể uống mebendazole 50 mg / kg x 7 ngày.

praziquantel: không ảnh hưởng đến sán.

triclabendazole: có tác dụng rất tốt đối với cả sán lá gan cấp tính và mãn tính. Điều trị bằng triclabendazole cho kết quả cao và an toàn với liều duy nhất 10 – 20 mg / kg, chia làm 2 lần sau bữa ăn 6 – 8 giờ. Có thể dùng một liều triclabendazole 10mg / kg hoặc hai liều 10mg / kg / ngày với khả năng khỏi bệnh 100% (apt và cộng sự, 1995).

dịch tễ học và phòng ngừa.

dịch tễ học:

trên thế giới:

Sán lá gan được Linne phát hiện và đặt tên vào năm 1758. Tuy nhiên, ở châu Âu, bệnh sán lá gan lớn ở người đã được xác định là xuất hiện cách đây 5000-5100 năm (Bouchet, 1997; Aspock). và cộng sự, 1999; dittmar và teegen, 2003). Chen và Mott (1990) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của bệnh sán lá gan lớn ở người đối với sức khỏe cộng đồng và ghi nhận 2.594 bệnh nhân ở 42 quốc gia từ năm 1970 đến 1990. Bệnh sán lá gan lớn đã được báo cáo ở các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương.

một số báo cáo cho thấy có 2,4 triệu người trên thế giới (rim và cộng sự, 1994) và thậm chí 17 triệu người bị nhiễm sán lá gan lớn (hopkins và cộng sự, 1992). hầu hết các nghiên cứu chỉ xác định được số người mắc bệnh trong khu vực. Ngoài các loại rau thủy sinh, một số loại rau nước có bọ gậy cũng là nguồn bệnh.

Xem ngay: [Đầy đủ – chi tiết] 33 loại hình du lịch ở Việt Nam hiện nay

tại Việt Nam:

codvelle et al báo cáo bệnh sán lá gan lớn ở Việt Nam năm 1928.

nền tảng gan lớn f. gigantica trên gia súc đã được xác định ở nhiều nơi như cao bang, hà nội, huế, nha trang …

Từ năm 1978, Bộ luật Dương Thái và trinh sát báo cáo có 2 trường hợp nhiễm sán lá gan ở người, một trường hợp áp xe bắp chân và một trường hợp tử vong do 700 con sán lá gan.

XEM THÊM:  Kèo rung là gì? Kèo rung trong bóng đá bắt đầu tính từ phút bao nhiêu?

Từ năm 1997 đến năm 2000, Trần Vinh và Trần Thị Kim Dung báo cáo rằng có 500 trường hợp mắc bệnh sán lá gan lớn ở khu vực phía Nam do đáp ứng miễn dịch. trong đó chỉ có 14/285 bệnh nhân tìm thấy trứng trong phân. trong số 393 bệnh nhân có địa chỉ, gồm 12 tỉnh: Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai, Bến Tre, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh

Năm 2002 – 2004, Viện sốt rét quốc gia – kst – ct đã phát hiện bệnh nhân mắc bệnh sán lá gan lớn tại 17 tỉnh như: bắc giang, bắc ninh, phú thọ, vinh phúc, hà nội, hà tay, thái bình, hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nam, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị.

Tính đến tháng 4 năm 2005, Việt Nam đã phát hiện bệnh nhân mắc bệnh sán lá gan lớn ở 30 tỉnh, thành phố.

thành phần loài của sán lá gan ở Việt Nam:

về thành phần loài, theo phương pháp hình thái học:

Viện sốt rét quốc gia – kst-ct năm 1993, đã xác định được trong 2 con sán được thu thập từ người (mổ gan) tại bệnh viện đa khoa Đà Nẵng là sán lá gan lớn.

Sán lá trưởng thành được thu thập từ bệnh nhân (có giun sán ký sinh dưới da ngực) tại thành phố Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh cũng đã được xác định là sán lá gan lớn gigantica (Lê Thị Xuân, 2001).

Những con sán trưởng thành lấy từ bệnh nhân (dịch chảy ra từ khớp gối) cũng được xác định là Fasciola gigantica (nguyen van de, 2003).

Từ năm 2001, việc ứng dụng phương pháp sinh học phân tử, việc xác định và đánh giá sán lá gan nói riêng và bệnh giun sán nói chung đã đạt được nhiều thành tựu mới.

bằng phương pháp sinh học phân tử: thanh hóa pera, dang tat the và cộng sự (2001 – 2004) đã xác định được sán lá gan lớn ở người và gia súc tại lang sơn, bình định, lai châu, hà nội, nghệ an, hòa bình và ho thành phố hồ chí minh. Hồ Chí Minh

Kết quả đánh giá cho thấy sán lá gan lớn Việt Nam có mức độ tương ứng phân tử rất cao với sán lá gan lớn, nhưng thấp hơn nhiều so với f. gan trên thế giới.

Tuy nhiên, có hiện tượng đồng nhất về mặt di truyền một phần giữa các dòng f.gigantica của Việt Nam với f.hepatica, trong khi f.gigantica từ Hàn Quốc và Nhật Bản

cấm thì indonesia không có nên f.gigantica việt nam có dấu hiệu lai tạp với f. gan mật.

đặc biệt bằng sinh học phân tử, người ta đã xác định được sán lá gan lớn từ trứng trong phân của bệnh nhân ở Nghệ an là loài f.gigantica và có sự lai tạp giữa f.gigantica và f. Ganwort (nguyen van de và le thanh hoa, 2003, 2004).

phòng ngừa:

Nguyên tắc phòng bệnh sán lá gan là cắt đứt các mắt xích trong vòng đời của sán. nhưng biện pháp hữu hiệu nhất là kết hợp tuyên truyền giáo dục “không ăn rau thủy sinh sống” kết hợp khám sàng lọc bệnh nhân để điều trị đặc hiệu.

Xem thêm: Kỹ năng tự học tiếng anh là gì

Vậy là đến đây bài viết về Vòng đời của sán lá gan là gì đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website VCCIDATA.COM.VN

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button