Hỏi đáp

Thiên cổ hùng văn có nghĩa là gì

Bạn đang quan tâm đến Thiên cổ hùng văn có nghĩa là gì phải không? Nào hãy cùng VCCIDATA đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

XEM VIDEO Thiên cổ hùng văn có nghĩa là gì tại đây.

chủ đề

Chứng tỏ Đại Cao là bậc anh hùng thiên cổ

Bạn đang xem: Thiên cổ hùng văn có nghĩa là gì

bài văn mẫu chứng minh đại cao là bậc anh hùng thời xưa

bài luận ví dụ 1

bạn đang xem: chứng minh rằng đại cao là một câu chuyện cổ tích anh hùng

nếu ở thế kỷ XI, quân xâm lược tiễn đưa hồn siêu phách lạc vì nghe tiếng đàn của bài vị nam thần vang lên bên bờ sông như trăng; hay thậm chí ở thế kỷ 20 thực dân Pháp không có cớ gì để “khai hóa, lập quốc” của một con người sau khi nghe những lời mạnh mẽ của Hồ Chí Minh trong bản tuyên ngôn độc lập, thì đến thế kỷ 15, tại sao chúng ta lại quên mất Nguyễn Trãi. “Thiên cổ hùng văn”. Ra đời sau chiến thắng giặc Minh của nghĩa quân Lam Sơn, bài văn nêu cao tinh thần độc lập dân tộc và lòng yêu nước được ghi nhớ muôn đời. Cho đến ngày nay, nồi ngô vẫn là một tuyên ngôn độc lập của dân tộc họ.

Để một tác phẩm được coi là tuyên ngôn độc lập, trước tiên tác phẩm đó phải được viết trong hoặc sau chiến tranh. nội dung bản tuyên ngôn luôn có 3 nội dung: khẳng định độc lập, chủ quyền quốc gia; tuyên bố chiến thắng; tuyên bố hòa bình So với những tiêu chuẩn đó, nồi ngô to đều tuân thủ đầy đủ. Sau khi chiến thắng quân xâm lược, mùa xuân năm 1428, theo lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã viết báo cáo công bố nền độc lập dân tộc, thắng lợi của cuộc khởi nghĩa lam sơn và tuyên bố hòa bình sau hai mươi năm dài bị đô hộ và chiến tranh. . . vì vậy, ca khúc bất hủ ấy trở thành khúc khải hoàn ca của một kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên hoàn toàn độc lập, tự do.

Với lối văn xuôi nhịp nhàng, giọng điệu hào hùng và tinh thần quật khởi, lời khuyên lớn được mở đầu bằng câu nói “Đại Việt là nước ta”:

giống như đất nước của chúng tôi trước đây

mọi người đều có một kiệt tác.

Với phương pháp liệt kê thông qua hàng loạt các yếu tố như: văn hóa, sông núi, phong tục tập quán, lịch sử và sự hào hùng, họ đã hoàn toàn xác lập nền độc lập của đất nước. Nên nhớ ở nam quốc sơn hà, ly thương kiết chỉ tuyên bố ở một khía cạnh rằng đó là lãnh thổ, nhưng đó là ở trên trời. đối với đại cao bình ngoại, nguyễn trai đã nâng sự thật độc lập lên nhiều khía cạnh cụ thể, không mơ hồ. Tuy nhiên, sức thuyết phục trong cách khẳng định độc lập, chủ quyền này là ở chỗ, chính sử lưu ý đặt nó vào vị trí so sánh giữa hai quốc gia Đại Việt và Đại Hán. không phân biệt yếu tố lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, nhưng xét về yếu tố năm yếu tố đó thì người viết cho thấy hai quốc gia, hai dân tộc là tương đương nhau. đường lối khẳng định chân lý độc lập có giá trị cao hơn, vừa vững chắc vừa nâng cao vị thế dân tộc ta ngang hàng với quốc gia, dân tộc đại hán. hơn nữa, những từ ngữ của trước, từ lâu, cũng khác nhau, của nhiều thế hệ, v.v., liên tiếp nhấn mạnh sự khẳng định độc lập và chủ quyền đã có từ lâu đời, cũng như sự tồn tại của đế quốc phương Bắc. Như vậy, cáo phó mở đầu bằng một lời khẳng định đanh thép, chắc chắn là “không thể chối cãi”, mà lịch sử chưa từng xem xét, cũng đã ghi lại.

nhà báo vĩ đại đã ghi lại một sự thật độc lập đầy nhân từ. nền độc lập đó không phải đạt được bởi ý định thần thánh mà là do sự quyết tâm của con người. chính những con người đã có công xây dựng nền độc lập từ bao đời nay. Bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu thương cảm và đau khổ, bao nhiêu mồ hôi nước mắt của một dân tộc hàng nghìn năm tuổi. vì vậy nó là “bất khả xâm phạm”. Trong suốt sáu trăm năm đất nước độc lập, tự chủ, lần đầu tiên chân lý về chủ quyền dân tộc vang lên một cách táo bạo, đầy tự hào đến thế. Đó chính là cơ sở vững chắc, là cơ sở pháp lý, là luận cứ xác đáng để Nguyễn Trãi tiếp tục lên án những tên bạo chúa đã cố tình xâm phạm chủ quyền của nước ta.

“Bản tuyên ngôn” binh ngô đã lên án mạnh mẽ tội ác của kẻ thù đã mang lại bao tai họa cho dân tộc ta suốt hai mươi năm. từ những âm mưu thâm độc đến những hành động man rợ, tàn bạo và trơ trẽn mà nguyen trai viết nên đầy phẫn nộ và bức xúc:

tàn ác thay nam là tre không viết hết tội ác,

nước bẩn thay đông hải không khử được mùi hôi.

có lẽ trời đất sẽ tha thứ,

người mà chính các vị thần có thể xử lý.

nhưng nén đau thương bằng hành động, cả dân tộc đã vùng lên:

dân tứ xứ có nhà dựng lũy ​​tre, phất cờ;

những vị tướng có tấm lòng phụ tử, hòa cùng nước sông chén rượu ngọt ngào.

Toàn bộ phiên bản là một bài ca anh hùng vĩ đại về những chiến công hiển hách và vẻ vang mà dân tộc đã chung sức đạt được. đúng là chỉ có chân lý độc lập, tự do mới đem lại nhiệt huyết và khát vọng cháy bỏng như vậy. Nguyễn Trãi đã phải chờ đợi, đợi chờ biết bao nhiêu năm để viết nên những thời khắc lịch sử khó quên ấy. hơn một lần ông khẳng định chắc chắn rằng cuộc chiến này, sự đồng xuất hiện này, xuất phát từ một nguyên nhân chính nghĩa. sử dụng sức mạnh bạo lực của công lý để đè bẹp bạo lực bất công. Chiến thắng giặc ngoại xâm năm xưa một lần nữa ghi vào sử sách là sự trừng phạt đối với những kẻ bạo ngược, xâm phạm chủ quyền, tham lam việc công, làm thất bại, kẻ thích chí lớn phải diệt vong.

đó là lý do dù trải qua bao đau thương, vinh quang, Tổ quốc đã nhận được “quả ngọt”:

giao tiếp bền vững từ bây giờ,

giang ở đây để đổi mới.

khôn ngoan và sau đó là sáng suốt,

hối tiếc và sau đó một lần nữa.

mãi mãi, một nền hòa bình vững chắc,

hàng ngàn vết sỉ nhục đều sạch.

giọng thơ có phần thoải mái nhưng vẫn cao và vang. bền vững, đổi mới, vững chắc … là những tuyên bố hào phóng của niềm vui và hạnh phúc. quy luật của cuộc sống là xấu rồi xấu, tiếc rồi là tất nhiên, nhưng chắc chắn trải qua quy luật đó là công sức của cả dân tộc bao đời nay để giữ vững nền độc lập. hình ảnh các xã, giang sơn, kiền kiền, nhật nguyệt tăng dần kích thước vũ trụ, dường như đủ để đo lường hòa bình. chân lý độc lập vang xa và rộng khắp. nhưng nguyễn trai vẫn không quên công ơn sự giúp đỡ, ủng hộ của trời đất, của các bậc tiên hiền, thánh hiền đã có được thành quả thắng lợi to lớn như vậy. câu nói cũng chứa đựng đạo lý uống nước nhớ nguồn. do đó, tác giả bài cáo chẳng những tài sắc vẹn toàn mà còn tài đức vô hạn. các giá trị độc lập và chủ quyền của bản tuyên ngôn được thiết lập bởi những ý tưởng nhân văn và truyền thống đạo đức như vậy.

Tác phẩm bình Ngô đại cáo ban đầu là một sử liệu, về sau tác phẩm được coi như một “thiên cổ hùng văn”, một áng văn chính luận bất hủ. nhưng dẫu sao cũng không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của Người đối với tư tưởng độc lập dân tộc mang tầm vóc quốc tế. tầm vóc vĩ đại của nó khẳng định một lần nữa đây là bản tuyên ngôn độc lập tự hào của dân tộc Việt Nam, thể hiện lòng yêu nước sâu sắc của các dân tộc và khát vọng hòa bình của cả nhân loại.

& gt; & gt; tham chiếu : kế hoạch để chứng minh rằng Đại cao là một anh hùng thời cổ đại

bài luận mẫu 2

Nhắc đến Hũ ngô Nguyễn Trãi, người ta nhớ ngay đến một văn kiện lịch sử, một khúc ca khải hoàn của một đất nước đã sống hai mươi năm gian khổ dưới ách đô hộ và chiến tranh chống giặc. tác phẩm là sự kết tinh của lòng yêu nước, ý chí đánh giặc, của một dân tộc phải sống những ngày tháng đau thương, tủi nhục nhưng rất đỗi vẻ vang. Tuy nhiên, phóng sự đó được viết bởi nhà văn lỗi lạc Nguyễn Trãi với nghệ thuật chính luận đỉnh cao, một bậc thầy mà ít tác phẩm cùng thể loại thời trung đại có được. thì hũ cáo lớn xứng đáng được gọi là “thiên cổ hùng văn”.

ang “văn chương anh hùng thiên cổ” có nghĩa là áng văn chương oai hùng được lưu truyền từ ngàn đời nay. để có được danh hiệu đó, chắc chắn phải có tác phẩm văn học xuất sắc cả về nội dung và nghệ thuật. đồng thời cũng phải nói đến những giá trị lịch sử, những tư tưởng lớn, những dấu tích và ý nghĩa để lại cho muôn đời sau. nhưng có lẽ, một việc làm tốt đẹp có thể lưu truyền hàng ngàn đời nay phải chạm đến trái tim và tình cảm của bao thế hệ; nó phải có ý nghĩa tư tưởng to lớn phù hợp với mọi thời đại … đại cáo là một tác phẩm văn học bất hủ như thế.

Đã nhiều năm trôi qua, nhưng chắc hẳn dân tộc ta luôn tự hào vì có một bản anh hùng ca hào hùng như đại cáo. tác phẩm đã thức tỉnh lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, khát vọng hòa bình, ý chí bất khuất trên con đường đấu tranh bảo vệ quê hương. bao nhiêu cảm xúc nguyễn trai đã để cho trào dâng trong lồng ngực. có quyết tâm, kiên định trong lần mở đầu tiên:

cốt lõi của con người là sống trong hòa bình,

Quân đội vẫn ổn khi đối mặt với bạo lực.

nhân nghĩa vốn là tư duy của Nho gia, thể hiện cách cư xử tốt đẹp giữa con người với nhau, không hề xa lạ. nhưng bốn chữ an dân, trừ giặc bạo ngược đã nâng nó lên một tầm cao mới, trở thành lý tưởng xã hội và đạo lý dân tộc muôn đời. không phải ngay lúc đó giết giặc để trừ bạo tàn mà phải diệt trừ kẻ vô lương tâm gây thiệt hại để nhân dân được sống yên ổn, ấm no. đó là tính nhân văn xuất phát từ “dân phố thị”. do đó, ngay trong đoạn mở đầu này, chúng ta có thể thấy có cả sự kiêu căng và ngạo mạn trong việc khẳng định chủ quyền và độc lập dân tộc:

XEM THÊM:  Di tieu thay buot la benh gi

giống như đất nước Đại Việt của chúng ta trước đây

mọi người đều có một kiệt tác.

luồng khí tự chủ tỏa ra từ sự so sánh mới chưa từng có trước đây. nó rõ ràng có giá trị bất cứ lúc nào, đối với bất kỳ người nào. nhưng vào thời điểm đó, việc khẳng định chủ quyền với cường quốc phương bắc như vậy là một đòn chí mạng đối với những kẻ đang nhân cơ hội gây hại cho dân tộc ta.

và có cả sự phẫn nộ, phẫn uất đối với tội ác tày trời của bọn trộm cắp và bán nước. làm sao chúng ta có thể quên được những cảnh ám ảnh:

nướng người da đen trên ngọn lửa dữ dội

chôn cậu bé da đỏ trong hố thảm họa

Trong hai mươi năm cuối cùng bị loài người đánh bại, toàn bộ đất trời, từ con người đến cả côn trùng và thực vật đều bị tàn sát một cách dã man. tội đó, nước đông hải không rửa sạch mùi, tre nam sơn không ghi hết tội, chứng tích còn ghi muôn đời. từng cảnh con người, nhà cửa, đất nước tan hoang dưới lưỡi lê của bọn khát máu… làm sao mà quên được? Nguyễn Trãi như chạm vào nỗi đau thấu tận xương tủy nhưng ông đã nhận rõ biết bao kẻ thù chứ không riêng gì kẻ thù trong suốt chiều dài lịch sử bảo vệ Tổ quốc cũng mang chân lý của những kẻ tàn bạo. chính vì vậy mà nỗi đau ấy khơi dậy rất nhiều nỗi đau để chúng ta không quên sứ mệnh bảo vệ đất nước và đánh đuổi các băng nhóm khác.

Ngoài ra, còn là sự trăn trở, lo lắng về vận mệnh đất nước với tấm lòng yêu nước thương dân. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Trãi dùng hơn hai mươi câu để nói về tể tướng Lê Lợi. tấm gương anh hùng xuất hiện trong cuộc sống của nhân dân. từ nguồn gốc đến cách gọi của họ, họ đều rất gần gũi, họ đau đáu nỗi đau của dân tộc như chính dân tộc mình, lòng căm thù giặc cháy bỏng và quyết tâm trả thù kẻ thù như chính người dân của mình, khát vọng vượt qua mọi khó khăn. và những khó khăn. để chiến đấu với kẻ thù, với tư cách là người dân của mình. Vì hiểu biết, vì yêu hành động, vị thủ lĩnh ấy đã biến kẻ yếu thành kẻ mạnh, hạ gục ít nhiều kẻ thù, sáng tạo ra những cách đánh kỳ thú, từng bước xung kích tiến tới những chiến công hiển hách. Nhưng chắc hẳn ai đọc tin nhắn cũng biết quân ta thắng không chỉ nhờ những ưu điểm trên, mà còn vì dân tứ xứ đã là một nhà, tướng sĩ một lòng, luôn nêu cao tinh thần:

sử dụng chính nghĩa để chiến thắng kẻ tàn ác

thay thế sự dũng cảm bằng lòng tốt

Đại nhân, chi nhân: nó không phải là người dẫn đường, nó là ngọn đèn soi sáng cho những chiến công anh hùng sau này của dân tộc ta. và mãi mãi về sau suy nghĩ này sẽ trở thành ngọn đuốc cho những người đại diện kiên trung chống lại mọi kẻ thù.

hay cả không khí sôi sục và dữ dội của những ngày kháng chiến hào hùng. Có lẽ phẩm chất anh hùng của bài đại cáo được thể hiện rõ nét nhất trong việc tái hiện lịch sử hào hùng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. những trận đánh liên tiếp, những đợt phản công liên tiếp cũng là những trận thua liên tiếp của địch. đến từ nghệ, thanh rồi đến đông đô, thăng long, cảnh chiến trường đầy sấm sét dữ dội, tre non bay tro tàn, máu chảy thành sông, xác chồng chất bên trong, cảnh vật đổi màu, ánh sáng. phải thay đổi, nguyệt thực phải mờ. chúng tôi tiếp tục chiến thắng, phá vỡ tất cả các kìm, ngăn chặn mọi con đường giúp đỡ. kẻ thù xuất hiện hoàn toàn trái ngược với quá khứ. lúc trước cậu bé há miệng, lộ ra đôi môi đầy máu và mỡ, nay nghe hơi thở mà như mất hồn, nín thở tìm lối thoát, cúi đầu chịu chết, bó tay chờ đợi. . chết, trí lực kiệt, mất trí, mất trí, chết trận, người thừa kế, quỳ lạy tạ tội, trói tay xin hàng … nguyễn trai rõ ràng đã được tái hiện không thiếu sót, sự thật của kẻ thù hiện lên một cách nhục nhã, thảm hại, thảm hại. tuy nhiên, điều chúng ta ngưỡng mộ và kính trọng trong chiến thắng của mình là con đường hiếu thảo rộng mở với kẻ thù. một lần nữa tư duy nhân văn xuất sắc lại phát huy tác dụng. biết dừng đúng lúc, không đẩy kẻ thù đến bước đường cùng, đó mới là đại nghĩa, chính nghĩa. chiến công ấy đã trở thành bất tử, huyền thoại trong lịch sử nước nhà. dư âm của một thời đại hào hùng còn vang vọng hàng nghìn năm.

khi kết thúc, cảm xúc dâng trào trong một câu hát trang trọng, hào sảng, vui sướng vì đất nước được hoàn toàn độc lập, tự do. giấc mơ hòa bình nay đã thành hiện thực. người viết phải xúc động biết bao!

xã hội bền vững từ bây giờ,

giang ở đây để đổi mới.

khôn ngoan và sau đó là sáng suốt,

hối tiếc và sau đó một lần nữa,

mãi mãi, một nền hòa bình vững chắc,

hàng nghìn lần bị làm nhục.

quy luật sinh tồn và thịnh vượng là như vậy, nhưng vẫn phải xuất phát từ sự chung sức, đồng lòng của quân dân, từ tài năng kiệt xuất của các anh hùng, từ nền tảng tôn trọng nhân loại yêu chuộng hòa bình. chỗ đứng đó đã có từ hàng trăm năm trước và vẫn còn vững chắc hàng trăm năm sau, nhưng báo cáo này như một lời nhắc nhở.

Quả là ngô nghê, khúc khải hoàn ca, bản hùng ca vang bóng một thời đã gom lại bao cảm xúc như tiếng chuông ngân vang vọng từ quá khứ, hướng về chúng ta ở mỗi thời đại chúng ta đều cảm thấy hãnh diện, tự hào. Nguyễn trai đã biến một tài liệu lịch sử khô khan, cứng nhắc, đầy rẫy những sắc lệnh thành một bản hùng ca đầy tâm huyết, trong sáng và có giá trị.

nhưng ý nghĩa của tác phẩm “văn học sử thi anh hùng vĩ đại” của tác phẩm còn được thể hiện ở nghệ thuật viết chính luận tài ba, xuất sắc của nguyễn trai. Điều đáng chú ý ở Đại cao bình ngoại là ông đã đưa nghệ thuật viết chính luận thời trung đại lên một mức độ mẫu mực và bậc thầy. buổi báo cáo lớn hướng đến người dân Đại Việt tuyên bố độc lập sau chiến thắng trước quân xâm lược. tuy nhiên, chiến tranh không còn nữa, nhưng bản chất gây tranh cãi của nó vẫn hiện rõ. nhà văn vẫn hướng về kẻ thù, về lực lượng hùng mạnh đã theo dõi bao thế hệ. độc lập là quyền bất khả xâm phạm, không những đã có quân đội lam sơn bảo vệ thành công mà còn được giữ vững từ các đời trước cho đến muôn đời sau. nó phải báo cáo như một lần nữa đấu tranh trực diện với kẻ thù trên mặt trận ngoại giao. chúng ta có tất cả các yếu tố tương ứng để xác lập chủ quyền của mình, và chúng ta đã đứng lên và chiến đấu hết mình để bảo vệ. chiến thắng của ta là có thật, sự thất bại của kẻ thù là điều không thể chối cãi. bản tuyên ngôn vĩ đại nghe như một phán quyết cuối cùng trước tòa án nhân loại. bản án ấy đã khắc sâu và hùng hồn trong lòng dân tộc Việt Nam từ ngàn đời nay.

Ngoài ra, báo cáo lớn có cấu trúc cực kỳ chặt chẽ. bắt đầu từ nền tảng lý luận xác lập chân lý và công lý vĩnh cửu để vạch trần tội ác không thể tha thứ của kẻ thù không đội trời chung cho thấy thực tế cần phải đấu tranh bảo vệ chân lý đó. Nguyễn Trãi đã đặt những nền móng vững chắc và từng chút xây dựng những bức tường thành vững chắc cho quá trình bảo vệ nền độc lập của dân tộc ta. văn phong nguyễn trai dung dị. sự đối xứng trong từng câu kết hợp với lối đối lập tương phản và ước lệ sử thi đã tạo nên một hình tượng tráng lệ, hùng vĩ. lập luận của báo cáo rất gay gắt khi lấy ý tưởng về nhân loại làm gốc rễ của nó. tất cả nội dung thực hiện đều dựa trên ý tưởng này. từ đó vạch trần bộ mặt xảo trá, thâm độc của kẻ thù, thấy được cuộc kháng chiến gian khổ và anh dũng của dân tộc là chính nghĩa. Về phía nhân loại, việc đất nước được hòa bình là điều tất yếu. ngôn ngữ của phóng sự cũng là một trong những yếu tố tạo nên giá trị, bởi nó giàu chất liệu hình ảnh, tạo nên nhiều âm điệu mang lại nhiều cảm xúc. tuy nhiên, một trong những yếu tố khác làm cho bản tuyên ngôn vĩ đại tồn tại mãi mãi là bản dịch rất thành công, truyền tải được nguyên vẹn cảm xúc của văn bản gốc để các thế hệ mai sau có thể dễ dàng cảm nhận được.

mượn lời của nhà thơ xuân khảo để thay cho lời kết: “trước le loi đã có chiến công hiển hách đánh đuổi giặc ngoại xâm, sau le loi sẽ có chiến thắng thần tốc vương quang.” Trung đã đánh đuổi 200.000 quân xâm lược, nhưng trong lịch sử văn học chỉ có một bài thơ Binh ngoại đại cáo, vì những lý do sau: không có ba vị nguyên soái để viết nên ba khúc khải hoàn mà lịch sử yêu cầu, mà chỉ có một vị nguyên. đặc biệt là hiệu uc trai, đầu triều Lê với tài thao lược kinh lược, là thiên tài viết văn. “

xem thêm:

phân tích bản tường trình của nguyen trai

Nghệ thuật tranh luận trên bình đại cao của nguyen trai

bài luận mẫu 3

Trong văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận lỗi lạc nhất. ông đã để lại một khối lượng văn học chính luận khá đồ sộ, trong đó Cáo bình ngô ngô được coi là “nghìn cổ nhất” của văn học chữ Hán cổ điển ở nước ta.

Xem thêm: Càng ăn càng gầy là bệnh gì

có thể hiểu “văn học anh hùng cổ đại” là văn học anh hùng vĩnh cửu. Trước khi có nguyên soái, dưới triều đại của nhà Lý, đã có những chuyên luận chính luận nổi tiếng như chiếu lệ (lý công uẩn), hịch tướng sĩ (trấn quốc tuấn). nhưng chỉ có ở Magnum opus, tính chất sử thi mới được thể hiện một cách toàn diện từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật. âm hưởng hùng tráng của bố cục bắt đầu bằng tiêu đề binh ngoà cao. báo cáo lớn không chỉ là bất kỳ báo cáo nào, mà là một báo cáo quốc gia quan trọng. binh ngo dai cao là một áng văn yêu nước lớn thời bấy giờ, bản tuyên ngôn độc lập chủ quyền dân tộc, bản cáo trạng tội ác chống giặc, bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa của lam sơn.

XEM THÊM:  Tại sao khi bắn súng người ta lại nhắm một mắt

Thiên nhiên hùng vĩ còn được thể hiện qua quy mô và bố cục của phóng sự. Dễ dàng nhận thấy, đại cáo là một tác phẩm văn học, có nội dung lớn, được chia thành bốn đoạn được đánh số thứ tự như trong văn bản, mỗi đoạn đều có một trọng tâm. đoạn đầu khẳng định tư tưởng nhân nghĩa và chân lý độc lập của dân tộc; đoạn thứ hai tố cáo, lên án tội ác của kẻ thù; đoạn thứ ba kể lại diễn biến cuộc chiến từ đầu đến thắng lợi hoàn toàn, nêu lên sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa và sức mạnh của lòng yêu nước; đoạn thứ tư tuyên bố thắng lợi của cuộc kháng chiến, rút ​​ra bài học lịch sử.

Hũ ngô đại cáo xứng danh là “thiên cổ hùng văn” cũng bởi nó chứa đựng tư tưởng lớn của nguyễn trai. xuyên suốt tác phẩm là ý tưởng nhân văn. Với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa trước hết là việc trấn an dân, giúp dân trừ bạo, nhân nghĩa là chống giặc ngoại xâm. quân đội nhân dân đánh giặc ngoại xâm cũng là quân đội chính nghĩa:

cốt lõi của con người là sống trong hòa bình

hình phạt quân đội trước đây để loại bỏ bạo lực…

Trong tư thế nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã vạch trần tội ác của các thế lực phản động và quân xâm lược:

Đội quân của kẻ điên đã nhân cơ hội để gây ra thiệt hại,

kẻ lừa đảo bán nước ở cuu vinh.

nướng người da đen trong ngọn lửa dữ dội,

chôn vùi màu đỏ trong hố thảm họa.

Chắc hẳn khi tôi viết những dòng này, nguyen trai phải rất đau và tức giận! tấm lòng nhân hậu của ông không thể dung thứ cho tội ác của bọn Tây, ông không thể thờ ơ trước tình cảnh của nhân dân, đang bị đe dọa bởi những lời đe dọa khủng khiếp như vậy. và càng đồng cảm với nhân dân, ông càng mài giũa ý chí chiến đấu tiêu diệt quân xâm lược. lúc này, nhân nghĩa trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của đội quân trừng phạt:

khiến kẻ chính nghĩa đánh bại kẻ tàn ác,

thay thế sự dũng cảm bằng lòng tốt.

chiến đấu vì đại nghĩa, đội quân lam sơn luôn là đội quân bất khả chiến bại. Sức mạnh của Nghĩa quân Lam Sơn là sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa hòa quyện với sức mạnh của lòng yêu nước. do đó hai lần đưa quân sang xâm lược nước ta cũng là hai lần kẻ thù nhận những thất bại thảm hại:

những người cứu hộ từ hai đội quân tan vỡ đã kịp thời quay lại;

giới thiệu kẻ thù của những thành phố khốn khổ, cởi bỏ áo giáp của bạn.

tướng giặc bị giam cầm như hổ đói vẫy đuôi vì mạng sống thân yêu;

trước những lời cầu xin tha tội của kẻ thù, quân ta không truy đuổi đến cùng mà đành lòng buông tha cho trời (…) để mở đường báo hiếu. thực ra, hành động nhân hậu ấy cũng bắt nguồn từ ý nghĩ muốn dân được yên nghỉ: thà lấy toàn quân còn hơn để dân yên. do đó, con người là động cơ, là sức mạnh, là số phận của trận chiến gỗ, và lòng nhân từ là bức tường bao bọc tất cả động lực, sức mạnh và mục đích. có thể nói toàn bộ bản báo cáo là một bài thánh ca hùng tráng cho ý tưởng nhân văn.

trong phóng sự, nguyễn trai đã tạo ra một hình ảnh về cuộc khởi nghĩa lam sơn. từ hình ảnh đến ngôn ngữ, từ màu sắc đến âm thanh, đến nhịp điệu, tất cả đều mang dấu ấn của phong cách viết sử thi.

chiến thắng của tôi, sức mạnh của tôi, sự thất bại kinh hoàng của kẻ thù và khung cảnh của chiến trường đều được thể hiện bằng những hình ảnh phong phú và đa dạng, được đo bằng sự bao la, vĩ đại của thiên nhiên:

– sấm và chớp,

đất tro bay chẻ từ trà tre.

– gươm mài đá, núi mòn,

voi uống nước thì nước sông phải cạn.

– máu ninh kiều chảy thành sông, trôi vạn dặm;

các hang động tốt có đầy đủ các cơ quan nội tạng, mục nát hàng nghìn năm.

– sự thay đổi phong cách khủng khiếp,

hoàng hôn thay vì mặt trời và mặt trăng sẽ mờ đi.

Về mặt ngôn ngữ, cả trong bản gốc và bản dịch, các động từ mạnh được kết hợp với các rung động nhanh và dữ dội. các tính từ chỉ mức độ tối đa tạo thành hai mảng màu trắng đen đối lập, biểu thị chiến thắng của ta và sự thất bại của kẻ thù. câu văn có lúc dài, lúc ngắn, thay đổi linh hoạt nên âm nhạc sảng khoái, tiết tấu nhanh. âm thanh trong trẻo, hùng tráng như sóng triều, giông tố. là nhịp của thủy triều dâng, sóng dâng từ lớp này sang lớp khác:

thứ mười tám…

ngày thứ hai mươi…

ngày thứ năm…

vào ngày thứ hai mươi tám…

Đó là nhịp điệu của gió, của bão, hết trận này đến trận khác:

gươm mài đá mòn, / đá núi cũng mòn,

voi uống nước, / nước sông phải được làm khô.

chiến đấu trong một trận chiến, / sạch sẽ đáng kinh ngạc,

chiến đấu hai lần, / chim bay tán loạn…

Chính phong cách nghệ thuật sử thi này kết hợp với tư duy lớn lao, vĩ đại đã mang lại vẻ uy nghiêm cho con cáo lớn, đưa Báo lên vị thế “thiên cổ hùng văn”.

sau cái bình của Cáo hoang, nhiều bài văn nghị luận khác cũng xuất hiện trong văn học trung đại, nhưng có lẽ không bài nào có thể vượt qua nó về thiên nhiên hùng vĩ như vậy. Đọc “thiên anh hùng ca” này, chúng ta mới cảm nhận được phần nào sức mạnh của hơn vạn quân sĩ qua từng trang tâm sự của nhà tư tưởng, nhà văn kiệt xuất Nguyễn Trãi.

xem thêm: thuyết minh về nồi ngô đại cao

bài luận mẫu 4

“Bình Ngô đại cáo” là bài thơ nổi tiếng nhất trong văn học cổ điển của nước ta, là một bản anh hùng ca thuộc thể văn tế, phất cờ nhân nghĩa, kể tội quân xâm lược, ca ngợi những anh hùng, dũng sĩ và chiến binh của dân tộc ta. nghệ thuật chống lại chế độ chuyên chế.

đại ca còn là khúc ca trữ tình thiết tha về nỗi đau nước mất nhà tan, tràn đầy niềm tự hào dân tộc và niềm vui chiến thắng. cáo là một thể văn cổ có từ xa xưa, thường được hoàng đế dùng để chỉ định, ban sắc và che chở cho quan lại và muôn dân, gọi là “báo thọ”, “văn phong”, “cáo từ”. . .đó là tên của một bậc hiền triết trong phủ thượng thư do Zhu cồng chiêng ban bố, xóa bỏ triều đại, sau này trở thành thể loại văn học thông báo những sự kiện quan trọng cho thiên hạ biết đến. Khi đặt tên cho bài văn tế này là “Đại Cáo”, Nguyễn Trãi chỉ muốn dùng lại tên Đại Cao để báo trước đạo lớn, đồng thời bày tỏ ý định tiếp nối truyền thống lâu đời của nhân loại. bình là phách, ngô là tên nước cổ thời tam quốc. Minh thai đến zhou yuan chuong dấy quân ở đất giang sơn, lúc đầu gọi là ngo quốc công, nên quân triều ming gọi là ngo quân. tiêu đề của bài đăng này có nghĩa là một tuyên bố về chính nghĩa của việc chống lại những kẻ xâm lược ngô.

Đó là một thể loại văn học mang tính chủ quan, không nhất thiết phóng sự nào cũng có giá trị văn học. nhưng do tư duy lớn, sự kiện trọng đại, và lối viết hùng hồn, hùng hồn nên bài “bình ngô đại cáo” của Nguyên trai thay cho câu vọng cổ đã trở thành một bản anh hùng ca vang danh khắp năm châu.

Ở phần đầu của báo cáo, tác giả nêu ngay lập tức quan điểm của mình:

“Cốt lõi của con người là sống trong hòa bình

quân đội bị trừng phạt trước tiên để loại bỏ bạo lực ”

Hai câu này đều có nghĩa là: Mục đích chính của lòng nhân từ là làm cho thiên hạ thái bình, nhưng muốn bình an vô sự thì trước hết phải lo tiêu diệt quân tàn bạo. Tư tưởng đó đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử Việt Nam. do đó, sau đây, bài tường thuật nhắc lại truyền thống “yên dân trừ bạo” của các triều đại “từ triều đình, lý, bình, nhiều đời giành độc lập”, mỗi thế hệ đều có một anh hùng vươn lên chiến thắng bạo tàn. người dân hòa bình. kết quả là thất bại trong việc cứu sống vương triều han, một triệu năm diệt vong. để làm, cuộc sống của o ma đã bị giết, một người nào đó đã bị bắt giữ. Trong đoạn văn này cần lưu ý rằng, ngay từ đầu, Nguyễn Trãi đã cho rằng đây là truyền thống văn hiến Đại Việt. “Đại Việt” là quốc hiệu của nước ta, ở thời gian và địa điểm. Thời Đinh lấy quốc hiệu là “Đại Cồ Việt” cũng theo tinh thần đó. đồng thời cho rằng mỗi bên “làm hoàng đế một phương”, chống lại hoàng đế phương bắc, tiếp nối truyền thống ly nam, ly thương, kiếp trước. do đó, bản tuyên ngôn vĩ đại mở ra không chỉ với ý tưởng của nhân loại, mà còn với tư cách của một quốc gia có chủ quyền. phần mở đầu nói rằng hoạt động từ thiện là sự tiếp nối vẻ vang của những truyền thống đó.

phần thứ hai của bài đề cập đến tội ác của kẻ thù và cảnh ngộ của nhân dân và đất nước dưới ách thống trị của kẻ thù. trận đánh nào cũng phải có lý do, lý do chính đáng nhất là tội ác của kẻ thù và hoàn cảnh của nhân dân. tác giả đã sử dụng mười hai cặp đối lập để tố cáo kẻ thù và phơi bày nỗi thống khổ của nhân dân. đáng chú ý nhất là bản chất vô cùng phá phách và tàn bạo của bọn xâm lược:

XEM THÊM:  9 Nguyên nhân và 4 lý do khiến Phụ Nữ ngoại tình thời nay

“nướng người da đen trên một con lừa tàn ác

chôn cậu bé da đỏ trong hố thảm họa. ”

“dân đen”, “con đỏ” ​​là hình ảnh quy ước của những người trăm họ, vô tội. quân giặc coi dân ta như dê cừu, dùng hết sức tàn phá. họ đã lừa dối trời, lừa dối dân chúng, gây chiến tranh và hành động gian ác trong hai mươi năm, gây ra sự hủy diệt của nhân loại và công lý, và sự hủy diệt của trời đất. không có gì bị phá hủy một cách tàn bạo:

“thuế cao không sạch”

mua sản phẩm, săn chim, nơi ẩn náu

rất nhiều người, bẫy hươu đen, công việc khó khăn mới thấy được ”

“gây hại cho cả côn trùng và thực vật”

từ bỏ toàn bộ nghề nông… ”

Số phận bi thảm của thị trấn được nhắc đến với cảm xúc xót xa:

“Con người buộc phải lặn xuống biển, lưng mò ngọc, chán cá mập.

những người bị bắt lên núi, tìm vàng trong cát, khốn khổ vì rừng sâu và nước độc! ”

“tải nặng”

“nhún vai thay vì góa phụ khốn khổ.”

Tác giả đã vẽ nên một bức tranh khái quát về tội ác chất chứa của kẻ thù, nhưng “tre nam không ghi hết tội ác”, “nước đông không khử mùi hôi”.

Người xưa chép sách và thẻ tre. tội ác của giặc Minh dù có đốn hết tre ở nam sơn cũng không ghi hết tội. “khanh truc nam thu” là thành ngữ của lu thị xuân thu, người Trung Quốc thường dùng để kể lại tội ác của kẻ thù trong các bài thơ, hic, ở đây dùng để vạch trần tội ác của kẻ thù, rất hữu dụng. lời tường thuật của kẻ thù kết thúc bằng một đối âm đầy khiêu khích và đầy khiêu khích như một biệt ngữ:

“Trời đất có thể tha thứ

Xem ngay: Đồng không mông quạnh | Giải thích Thành ngữ – Tục ngữ | SachHayOnline.com

ai nói mọi người có thể lấy nó? ”

Phần thứ ba của báo cáo là thông báo quá trình nuôi quân và kháng chiến thắng lợi. đây là phần trữ tình và mới mẻ nhất của bài luận.

Đoạn đầu tiên của phần này bao gồm mười lăm cặp đối lập nói về ý thức sứ mệnh của le loi và quá trình xây dựng sự nghiệp đầy khó khăn của cô khi mới bắt đầu. tác giả đã xây dựng hình tượng người anh hùng dân tộc, một hình tượng trữ tình cao cả và thống nhất.

Sử dụng phương pháp tự trình bày, bản báo cáo lớn mô tả tấm lòng, tinh thần, tài năng và mục đích có ý nghĩa của le loi. với hàng loạt vị ngữ, đoạn văn thể hiện thế giới nội tâm phong phú. một bản trình bày táo bạo:

“Tôi ở đây

ý nghĩa của việc nâng cao núi lam sơn

sa mạc ẩn náu ”

ý thức về sứ mệnh, coi thù hận của đất nước, nỗi đau của hàng trăm gia đình là của riêng mình, ngày đêm ở bên cạnh mình trong suốt hai mươi năm.

“Nghĩ về kẻ thù lớn giống như trời sinh

căm thù kẻ thù và thề không sống chung

Trái tim tôi đau nhói, đã mười năm rồi

nếm mật nằm gai, một hai buổi sáng sẽ có ”

“Tôi quên ăn, quên ngủ, ngay cả trong mơ tôi cũng lo lắng về việc lấy lại quê hương:

người khỏa thân trong giấc mơ

chỉ băn khoăn về điều gì đó không ổn ”

Những hình ảnh “nếm mật nằm gai”, “quên cả ăn giận”, “trần như nhộng nằm mơ” gợi cho em về tấm gương chịu thương chịu khó, nung nấu ý chí chiến đấu vì nghĩa lớn. > p>

Những khó khăn, vất vả ban đầu như thiếu người, thiếu quân, thiếu ăn đã thử thách tinh thần nhẫn nại, trọng nhân tài và khả năng tập hợp quần chúng. người tài như sao trong sáng, như lá mùa thu hiếm thấy, lòng cầu nguyện của le loi cũng rất chân thành.

Bên trái là chỗ ngồi cao quý mà thái tử bù nhìn lang quân dành để mời người gác cổng là hậu viện hợp tác với mình. nhưng càng đợi lâu, “người vắng bóng” càng nhiều và vai trò chủ động của chủ cửa hàng càng trở nên nổi bật.

Bản thân chúng ta phải hiến thân nhanh hơn để cứu người đang chết đuối. cuối cùng, người anh hùng đã tập hợp mọi người dưới ngọn cờ chính nghĩa của mình, tạo thành một khối đẹp đẽ:

“Dân tứ xứ có nhà, lũy tre dựng đứng, cớ bay phấp phới

các tướng lĩnh và binh lính nhân hậu, hòa cùng nước sông và một ly rượu ngọt. ”

hình ảnh “lũy tre làm ngọn cờ” nói lên chí khí quật khởi của quần chúng nhân dân, không vùng lên vì nghĩa lớn. hình ảnh “non sông hòa cùng ly rượu ngọt” thể hiện tinh thần đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi.

đồng thời, le loi đã có một chiến lược và chiến thuật rất tốt:

“trận chiến đang chờ xử lý, chống lại kẻ mạnh

sử dụng quân phục kích, tiêu diệt thêm một vài kẻ thù. ”

Phần thứ hai của bài báo nói về cuộc phản công thành công. đây là phần vui mừng, phấn khởi của bản báo cáo: nhưng những chiến công liên tiếp rõ ràng, được kể bằng một giọng tự hào và hả hê. ở đây hình ảnh người lãnh đạo nghĩa quân tiếp tục hiện lên, hình ảnh sức mạnh của nghĩa quân, nhưng nổi bật nhất là hình ảnh thất bại nhục nhã trước kẻ thù.

Tác giả không giới hạn việc kể lại tin tức về cuộc chiến hay tóm tắt chiến thắng, mà còn tự hào về sức mạnh của công lý:

“trận chiến sấm sét và sấm sét

chè tre chẻ đất tro bay ”

le loi “thay trời luyện đường”, tự mình cảm thấy sức mạnh của nghĩa quân mạnh như sức mạnh ngút trời, không một thế lực nào có thể chống lại được:

“gươm mài đá, đá núi cũng mòn

voi uống nước thì nước sông phải cạn

chiến đấu trong một trận chiến, sạch sẽ mà không có bất ngờ

chiến đấu hai lần, phân tán chim

gió thổi bay những chiếc lá khô

con dốc rỗng và con đập bị vỡ ”

Những hình ảnh “đá núi bị phong hóa”, “nước sông khô cạn”, “rõ ràng sạch sẽ”, “chim bay tán loạn”, “lá khô lau sạch”, “đập sập” đòi hỏi rất nhiều công sức. nghĩa quân và sự sụp đổ không thể vượt qua của quân giặc. đó là những phép ẩn dụ thể hiện quy mô vũ trụ và khổng lồ của sức mạnh chính nghĩa.

với hình thế khổng lồ, uy nghiêm và hình ảnh chiến thắng chóng vánh như chẻ tre, khiến giặc trở tay không kịp, vài ngày thắng, vài ngày giết được tướng giặc.

>

Hình ảnh thất bại của kẻ thù đã thể hiện rõ sức mạnh của quân đội ta. những người đang sống khiếp sợ:

“khùng quá, vẽ tranh cuộc đời có chút chệch choạc mà mất hồn

li an, quảng trường chính nín thở tìm lối thoát ”

“Đô đốc ngừng họp và xin lỗi

quốc vương hoàng phúc tự trói tay xin hàng ”

người chết là dòng sông máu và xác chết:

“Huyết hải kiều chảy thành sông, cá trôi vạn dặm

cơ thể đầy xác chết, vì vậy nó không thể bị lãng quên trong hàng ngàn năm… ”

“suối lạnh, máu chảy, nước sông rưng rưng

thành phố dân xã chất đống trên núi, bên trong nhuốm màu máu đen… ”

ở đây, sự thành bại của kẻ thù cũng ở quy mô vũ trụ: “ngàn dặm”, “ngàn năm”, “núi”, “sông”, “nội”.

hình ảnh le loi điều khiển quân đội của mình khẩn trương, khôn ngoan, chủ động, tốc độ, khôn ngoan tuyệt vời.

khác với kẻ thù “thông minh kiệt xuất”, le loi đề cao chiến lược “mưu kế, trừng trị, nhân tâm”. “Tôi không đánh, nhưng nhân dân chịu thua, bây giờ tôi định trừng trị, với tấm lòng công lý”. cả câu này không chỉ nói về chiến thuật mà còn nói về chiến lược: le loi không muốn dùng vũ lực để chiến đấu, mà muốn “trừng trị tâm cơ” trước. nhưng kẻ thù bại trận cũng không biết ăn năn hối cải, thậm chí còn bày ra nhiều mưu mô, vu cáo tội ác, mà chúng chỉ bị dồn đến bước đường cùng. đây, le loi bộc lộ một thiên tài quân sự lỗi lạc:

“Giặc dài, Tây đô bị quân ta chiếm lại

tuyển dụng binh lính để chiến đấu. đất đồng xưa khai hoang ”

“Tôi đã cử binh lính đến nguy hiểm, để cắt đứt đội tiên phong

sau đó chúng tôi ra lệnh cho tướng quân chặn đường và cắt nguồn lương thực. ”

chúng ta chiến thắng, nhưng chúng ta không hiếu chiến, không hiếu chiến, nhưng chúng ta rất rộng lượng với lòng hiếu thảo, yêu hòa bình và thực hiện những kế hoạch dài hạn.

“Bức tường kẻ thù bị giam cầm, như hổ đói vẫy đuôi cứu người

thần không giết hại, lòng con nhường chỗ cho lòng hiếu thảo

……………………

tham lam cuộc sống, sợ hãi cái chết, nhưng thực sự hòa giải

chúng tôi thích toàn quân hơn, mong mọi người yên nghỉ ”

Quân địch vẫn còn bàng hoàng, kinh ngạc, tạo thành dư âm mãi mãi về chiến thắng vĩ đại.

Tóm lại, tác giả không chỉ kể về chiến công mà chủ yếu miêu tả sự oai hùng, tầm vóc của chiến thắng, tác dụng lâu dài của chiến thắng và đặc biệt là vẻ đẹp nhân văn, bản lĩnh của người chiến thắng. những tính năng này mang lại cho báo cáo một màu sắc hoành tráng.

Bài ca ngất ngưởng không chỉ hay vì phản ánh chiến công hiển hách, thể hiện tầm vóc tư tưởng lớn lao của con người mà còn bởi ngôn ngữ giàu hình ảnh và âm nhạc. Trong bài văn này, các cặp đôi văn học tứ tuyệt cân đối đã phát huy được hiệu quả thẩm mĩ cao bằng cách xây dựng những hình tượng hùng tráng đậm chất sử thi, thấm đượm tình cảm dân tộc cao cả. binh ngo dai cao thực sự là một thiên anh hùng ca do nhà thơ viết nên.

——————-

Trên đây là một số bài văn chứng minh Đại Cáo là áng văn cổ anh hùng hay nhất mà Thpt Sóc Trăng sưu tầm và tổng hợp làm tài liệu học tập cho các em. Hơn nữa, các em có thể tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu 10 khác được cập nhật thường xuyên tại TP Sóc Trăng. Chúc các bạn luôn học tốt và đạt kết quả cao!

được đăng bởi: thpt luna sóc

danh mục: giáo dục

Xem ngay: Cách xem sim của mình là sim gì

Vậy là đến đây bài viết về Thiên cổ hùng văn có nghĩa là gì đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website VCCIDATA.COM.VN

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button