Tại sao luật hôn nhân và gia đình lại cấm không cho người có họ hàng gần kết hôn với nhau

Việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu trực hệ có quan hệ họ hàng trong phạm vi ba đời là điều mà luật không cho phép. Đặt trường hợp ngược lại là có quan hệ họ hàng nhưng ở ngoài phạm vi 3 đời này thì vẫn được phép kết hôn.

Bạn đang xem: Tại sao luật hôn nhân và gia đình lại cấm không cho người có họ hàng gần kết hôn với nhau

Kết hôn là việc hệ trọng cả đời người vì vậy không thể qua loa và ngày một ngày mai. Hôn nhân là sự ràng buộc thiêng liêng nhất, mang tới một người bạn đời, một người kề vai sát cánh để cùng nhau vượt qua những thử thách của cuộc sống. Vì vậy các vấn đề quy định về cấm kết hôn là điều mà các cặp đôi và gia đình nên nắm được để tránh những hiểm họa sau này đối với chính bản thân người trong cuộc và đối với con cái mình.

Quan hệ trong mấy đời thì được kết hôn, họ hàng trong phạm vi 4 đời kết hôn có được không? Đây có thể nói là thắc mắc phổ biến của nhiều người. Hiểu được vấn đề này, Luật Hoàng Phi đưa tới cho Quý khách hàng những thông tin cần thiết nhất đối với câu hỏi Họ hàng 4 đời có kết hôn được không?

Điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật hiện hành

Căn cứ quy định tại khoản 1 – Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì điều kiện để nam, nữ được kết hôn sẽ bao gồm:

Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

Như vậy để được kết hôn hợp pháp thì nam, nữ phải đáp ứng được các điều kiện kết hôn như trên.

*

Họ hàng trong vòng 4 đời có kết hôn được không?

Để biết họ hàng 4 đời có kết hôn được không? thì cần chiếu theo những quy định của pháp luật. Để bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình của Việt Nam, pháp luật quy định những trường hợp cấm kết hôn tại điểm d khoản 2 – Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về các hành vi cấm kết hôn, cụ thể như sau:

– Cấm kết hôn giả tạo, tức là kết hôn không phải vì để xây dựng hạnh phúc gia đình mà nhắm vào những mục đích khác chẳng hạn như là để xuất nhập cảnh, nhập quốc tịch…

– Cấm hành vi cản trở hoặc cưỡng ép, lừa dối người khác thực hiện kết hôn hoặc ly hôn;

– Cấm kết hôn khi chưa đủ độ tuổi mà pháp luật quy định (tảo hôn);

– Cấm chung sống như vợ chồng với người đang có vợ hoặc chồng, hoặc người đang có vợ hoặc chồng mà sống chung như vợ chồng với người khác;

– Cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có quan hệ họ hàng trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

– Cấm yêu sách, đòi hỏi về của cải một cách vô lý trong việc kết hôn, chẳng hạn như thách cưới, hoặc yêu cầu của hồi môn quá cao;

– Cấm thực hiện việc mang thai hộ, sử dụng kỹ thuật sinh sản vì mục đích thương mại, cấm lựa chọn giới tính của thai nhi, sinh con bằng hình thức sinh sản vô tính;

– Cấm mọi hành vi bạo lực gia đình, kể cả bạo lực thể chất hay bạo lực tinh thần;

– Cấm lợi dụng việc kết hôn để mua bán người, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động hoặc vì hành vi trục lợi khác.

Qua quy định này, có thể thấy việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu trực hệ có quan hệ họ hàng trong phạm vi ba đời là điều mà luật không cho phép. Đặt trường hợp ngược lại là có quan hệ họ hàng nhưng ở ngoài phạm vi 3 đời này thì vẫn được phép kết hôn.

Xem thêm: Tại Sao Ngón Cái Có 2 Đốt ? Vì Sao Ngón Tay Cái Chỉ Có 2 Đốt

Đồng thời, phạm vi 03 đời theo như quy định trên được giải thích là những người có cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.

Như vậy, pháp luật chỉ quy định cấm kết hôn trong phạm vi 03 đời để tránh những tác hại nghiêm trọng của kết hôn có cùng huyết thống làm tăng tỷ lệ phát sinh các bệnh di truyền và khuyết tật dị dạng, tỷ lệ sẩy thai, thai lưu tăng cao. Do đó, việc nam nữ có họ hàng trong phạm vi 04 đời vẫn được kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Tại sao lại quy định việc cấm kết hôn trong phạm vi ba đời?

Có nhiều nguyên do khác nhau để pháp luật quy định về vấn đề này, trong đó có thể liệt kê một số nguyên nhân như:

– Về mặt sinh học, di truyền: việc kết hôn trong phạm vi ba đời sẽ ảnh hưởng rất xấu đến thế hệ sau, do việc kết hôn trong phạm vi ba đời về mặt sinh học sẽ khiến tỷ lệ gen đồng hợp tăng, dị hợp giảm, điều này khiến các gen lặn có hại có điều kiện để biểu hiện ra ngoài thành biểu hiện như là cơ thể bị dị tật, sức đề kháng yếu, tỷ lệ tử vong cao, ngoài ra còn khiến cho tỷ lệ các bệnh di truyền như mắc các bệnh di truyền như bệnh Đao, mù màu, bạch tạng, bại não, đặc biệt là bệnh tan máu bẩm sinh nguy hiểm có tỷ lệ xuất hiện cao hơn, điều này có thể là nguyên nhân trực tiếp gây thoái hóa giống nòi dân tộc.

– Về mặt truyền thống, văn hóa: kết hôn khi trong quan hệ họ hàng gần (phạm vi ba đời) sẽ ảnh hưởng xấu tới truyền thống văn hóa dân tộc, do việc kết hôn trong họ hàng có thể nói là mang tính chất loạn luân, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục.

Con số ba đời là một phạm vi đã được tính toán để đảm bảo được tính toán để đảm bảo phù hợp về mặt di truyền, để bảo vệ giống nòi và thế hệ sau, cũng là khoảng thế hệ để đảm bảo không ảnh hưởng đến văn hóa của đất nước.

Xem thêm: Tại Sao Nói Hàng Hóa Sức Lao Đông Là Hàng Hóa Đặc Biệt, Hàng Hóa Sức Lao Động Là Hàng Hóa Đặc Biệt

Trên đây, chúng tôi đã trả lời câu hỏi họ hàng 4 đời có kết hôn được không? Để biết thêm thông tin chi tiết, Quý khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi quy tổng đài tư vấn trực tuyến của Hoàng Phi.

Chuyên mục: Hỏi Đáp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *