Hỏi đáp

Quản lý phát triển xã hội là gì

Bạn đang quan tâm đến Quản lý phát triển xã hội là gì phải không? Nào hãy cùng VCCIDATA đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

XEM VIDEO Quản lý phát triển xã hội là gì tại đây.

Xem ngay: Kỹ năng làm việc theo nhóm là gì

1. lý thuyết quản lý phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

Bạn đang xem: Quản lý phát triển xã hội là gì

Trong bài viết này, trước hết hãy tập trung vào khía cạnh xã hội của quá trình phát triển xã hội, với các vấn đề xã hội là một tiểu phân hệ của toàn xã hội (bao gồm chính trị, kinh tế và văn hóa xã hội). do đó, cũng tập trung làm rõ việc quản lý phát triển xã hội với các vấn đề xã hội. Báo cáo của Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh các nước về phát triển xã hội ở Đan Mạch, Copenhagen, ngày 6-12 tháng 3 năm 2005 đã đề cập đến 10 vấn đề phát triển xã hội: 1) bố trí việc làm; 2) Xóa đói giảm nghèo; 3) hòa nhập xã hội của các nhóm dân cư dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em, thanh niên, dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người cao tuổi, người dân ở các vùng khó khăn); phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, hòa nhập cộng đồng); 4) tăng cường vai trò của gia đình; 5) phát triển giáo dục; 6) dân số-kế hoạch hóa gia đình; 7) chăm sóc sức khỏe nhân dân (cộng đồng); 8) bảo trợ xã hội (bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội); 9) môi trường; 10) hạn chế và ngăn chặn các hành vi phạm tội (ma tuý, mại dâm, buôn lậu, tham nhũng, làm giàu bất chính …). Mười vấn đề đó đã thể hiện tầm nhìn toàn diện về lĩnh vực xã hội trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, vẫn còn những vấn đề xã hội mới cần được điều tra, kiểm soát và giải quyết.

Quản lý xã hội là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong khoa học xã hội. Thông thường, các nhà nghiên cứu phân loại quản lý xã hội theo hai cách hiểu rộng và hiểu theo nghĩa hẹp. “Quản lý xã hội là sự tác động liên tục và có tổ chức của chủ thể quản lý xã hội đối với xã hội và các đối tượng có liên quan, nhằm duy trì và phát triển xã hội phù hợp với đặc điểm và mục tiêu cụ thể của nó. xu hướng phát triển khách quan của xã hội. quản lý xã hội luôn diễn ra trong môi trường luôn thay đổi và vận động. vì vậy, quản lý xã hội luôn phải quan tâm đến sự phát triển và vận động của các sự vật, hiện tượng. Vì lẽ đó, ngày nay chúng ta thường nói rằng quản lý xã hội về bản chất là quản lý sự phát triển của xã hội. bản thân chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và bản thân đối tượng cũng vận động và phát triển không ngừng.

Quản lý phát triển xã hội là việc sử dụng các công cụ và giải pháp chính trị để thúc đẩy, điều chỉnh và quản lý các vấn đề xã hội nhằm đảm bảo các mục tiêu của quá trình phát triển xã hội. quản lý phát triển xã hội nói chung, bao gồm quản lý phát triển kinh tế, quản lý phát triển hệ thống chính trị, quản lý phát triển văn hóa, quản lý phát triển xã hội hẹp, quản lý phát triển con người, quản lý tài nguyên nhân tạo, đặc biệt là cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội. ”[2] Như vậy, nói đến quản lý phát triển xã hội là hiểu quá trình hoạt động và hành động của chủ thể quản lý, thông qua các chính sách và phương tiện, công cụ quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. quản lý phát triển xã hội không đơn thuần là hoạt động một chiều của chủ thể quản lý mà còn là quá trình tác động liên tục giữa chủ thể với khách thể và các nhân tố ảnh hưởng. “Quản lý phát triển xã hội là hoạt động quản lý của nhà nước có sự phối hợp của các tổ chức ngoài nhà nước trong việc tổ chức xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật, công cụ quản lý, huy động tối đa các nguồn lực cho giải pháp của xã hội. các vấn đề., hướng tới phát triển cá nhân và cộng đồng, và phát triển xã hội bền vững ‘[3]. nói chung: “quản lý phát triển xã hội, ở hình thức chung nhất, là sự tác động có chủ đích của hệ thống quản lý hoặc chủ thể quản lý (trực tiếp là nhà nước hoặc các tổ chức ngoài nhà nước) vào hệ thống quản lý hoặc đối tượng được quản lý ( đời sống xã hội).), bằng các nguồn lực xã hội và các công cụ, phương pháp tác động khác nhau, nhằm hướng dẫn sự vận hành và phát triển của đời sống xã hội, xã hội theo các mục tiêu đã đề ra ”[4] đồng thời cần thống nhất cách tiếp cận giải quyết các vấn đề này một cách biện chứng, “quản lý các vấn đề xã hội và phát triển xã hội (theo nghĩa chặt chẽ, vì nó là một lĩnh vực của đời sống xã hội), trước hết cần đặt trong hệ những vấn đề chung của toàn xã hội và mối quan hệ qua lại với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng, thứ hai, cần tiếp cận quá trình phát triển như một vòng tuần hoàn từ điều kiện. sự hình thành, hình thành, phát triển và tiêu vong của sự vật, hiện tượng, thứ ba, cần chú ý làm rõ vai trò của chủ thể quản lý đối với quá trình quản lý phát triển xã hội, các công cụ và phương pháp thực hiện các mục tiêu xã hội. thứ tư, khi áp dụng các lý thuyết chung cho một quốc gia cụ thể, cần phải chú ý giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, điều kiện lịch sử-cụ thể của quốc gia đó.5].

Trong quản lý phát triển xã hội luôn tồn tại mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể quản lý, mối quan hệ này được gắn kết với nhau bằng các phương pháp và công cụ quản lý. Ở tầm vĩ mô, đó là mối quan hệ của nhà nước với nhân dân và được điều phối bởi các chính sách quản lý phát triển xã hội do nhà nước đề ra. tuy nhiên, cần phải nói rõ rằng trong quản lý của sự phát triển xã hội hiện đại, vị trí giữa chủ thể và khách thể quản lý thường chỉ là tương đối. ở Việt Nam, Đảng ta luôn quyết tâm xây dựng một xã hội của dân, do dân, vì dân. chính sách của Đảng về quản lý phát triển xã hội luôn hướng tới mục tiêu mang lại sự hài hòa, ấm no và hạnh phúc cho nhân dân. chủ thể quản lý là nhà nước, nhân dân làm chủ xã hội thông qua nhà nước dân cử, đây là mối quan hệ phức tạp cần được thể chế hóa một cách rõ ràng, minh bạch. Sự tham gia của các tổ chức ngoài nhà nước vào quản lý phát triển xã hội cũng cần được xác nhận rõ ràng và minh bạch trong hiến pháp và pháp luật, trong các văn bản quản lý cụ thể. Chính những mối quan hệ này khi được thể chế hóa sẽ xác định rõ ràng hoạt động của các tổ chức và cộng đồng.

Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã đặt ra vấn đề về quản trị xã hội. Trước hết, cần phân biệt rõ hai khái niệm “quản lý” và “quản trị”. “Quản lý là một hoạt động thực hành đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể tác động vào các đối tượng bằng các công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua một quá trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách nhất định và đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả nhất. đối mặt với sự thay đổi của điều kiện môi trường. Trong nhiều sách giáo khoa quản lý học, các khái niệm quản lý đã được trình bày khá rõ ràng. nguyen thanh hoi và phan thang cho rằng “quản trị là một hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi mọi người cùng tham gia vào các tổ chức để đạt được mục tiêu chung” và giải thích rằng “từ quản trị – quản lý được dịch từ tiếng Anh , nên có nơi, có người gọi là quản trị, có người gọi là quản trị viên ”[7]. Giáo trình quản trị của Khoa Khoa học Hành chính Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng: “có nhiều cách hiểu khác nhau về quản trị, nhưng tựu chung lại có thể hiểu: quản trị là sự tác động trở lại của chủ thể quản lý. Để đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện thay đổi của môi trường “[8]. Dễ thấy rằng tất cả các tác giả này đều nói đến khái niệm quản lý với cách tiếp cận sự nghiệp kinh tế, từ cách tiếp cận của quản trị kinh doanh, đến cách tiếp cận của quản trị doanh nghiệp. lĩnh vực quản lý nhà nước, phạm vi của nó cũng hạn chế hơn nhiều so với khái niệm quản lý nhà nước. Các nhà khoa học, nhiều cụm từ cũng chỉ sử dụng khái niệm quản lý, mà không sử dụng khái niệm quản trị. Hai khái niệm này cũng có nhiều điểm tương đồng và trên thực tế nhiều người vẫn sử dụng thay thế cho nhau khi cần thiết. nhưng trong thực tiễn khoa học và quản lý, cần phân biệt hai khái niệm này. Như p.f.drucker đã nhấn mạnh, so sánh quản trị kinh doanh với quản lý cũng giống như so sánh sản khoa với y học đa khoa [9].

XEM THÊM:  Vì sao môi lại bị thâm tím? - Tuổi Trẻ Online

Trong quản lý nhà nước, nhiều người đã phân biệt giữa quản trị ( chính phủ ) và quản trị (quản trị). trong lĩnh vực quản trị. trong lĩnh vực này, khái niệm (quản trị) cũng được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Từ cách tiếp cận này, nhiều nhà nghiên cứu và các nhà chuyên môn đã đề cập đến các nguyên tắc cơ bản của “quản trị tốt”. Về cơ bản, quản trị được hiểu là phương thức thực hiện quyền lực nhà nước nhằm quản lý các nguồn lực kinh tế, xã hội để phát triển đất nước, với những đặc điểm mới phù hợp với sự phát triển của giai đoạn hiện nay. do đó, quản trị là một thuật ngữ chủ yếu gắn liền với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, mặc dù trong thực tế, khái niệm này đôi khi cũng được sử dụng trong một số bối cảnh khác, chẳng hạn như quản trị doanh nghiệp. Khái niệm quản trị trong quản lý xã hội chỉ mới được thế giới quan tâm và thảo luận đặc biệt trong hơn một thập kỷ trở lại đây. nhiều học giả đã phân tích sự thay đổi trong việc sử dụng thuật ngữ ‘chính phủ’ thành ‘quản trị nhà nước’ trong quản lý nhà nước, trong đó đa số cho rằng đây là xu thế của thế kỷ 21 và phản ánh sự thay đổi quan trọng trong nhận thức và thực tiễn quyền lực chính trị trong Quốc gia. các quốc gia cần các hình thức quản trị mới, trong đó có sự tham gia tích cực của các bên rộng lớn hơn nhiều.

cần giải thích rõ hơn khái niệm “quản trị tốt”. Theo các nhà nghiên cứu và thực hành, quản trị tốt là quy trình các cơ quan công quyền giải quyết các vấn đề công, quản lý các nguồn lực công và phục vụ tốt hơn cho quá trình phát triển của đất nước, với những đặc điểm mới, tiến bộ, phù hợp với yêu cầu hiện nay của thế kỷ 20. . Theo các cơ quan của Liên hợp quốc, quản trị tốt bao gồm 8 đặc điểm chính, đó là: có sự tham gia, định hướng đồng thuận, trách nhiệm giải trình và minh bạch, minh bạch, đáp ứng, hiệu lực, hiệu quả, bình đẳng và hòa nhập và tuân thủ pháp quyền. .

Quản trị tốt là một tập hợp các tiêu chí quản lý xã hội nhằm thúc đẩy và đảm bảo sự phát triển hài hòa và bền vững của một quốc gia. quản trị tốt không phải là một phương pháp hoặc mô hình tổ chức hoặc hoạt động của một nhà nước hoặc hệ thống chính trị, mà là các nguyên tắc chỉ đạo thiết kế và vận hành của bộ máy nhà nước hoặc hệ thống chính trị. [10] Mặc dù các nguyên tắc quản trị tốt rất có giá trị trong quản lý xã hội và quản lý phát triển xã hội, nhưng bản thân chúng không thể thay thế khái niệm quản lý xã hội và quản lý phát triển xã hội. Những nguyên tắc này giúp cho quá trình quản lý xã hội và phát triển xã hội có hiệu quả hơn trong điều kiện hiện nay. quản lý xã hội và quản lý phát triển xã hội là một khái niệm có nội hàm rộng hơn nhiều so với khái niệm quản trị xã hội và quản trị nhà nước tốt. Đặc biệt trong điều kiện của Việt Nam, với truyền thống văn hóa, lịch sử sẵn có, việc quản lý phát triển xã hội luôn được bổ sung những nội dung mới, nhưng mô hình nào đó không thể giảm xuống một vài nguyên tắc của pháp luật. Nhà nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã từng bước vận dụng các nguyên tắc quản trị tốt vào quá trình quản lý xã hội và quản lý phát triển xã hội, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của lịch sử Việt Nam và bối cảnh quốc tế. hiện tại.

2. quản lý phát triển xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình phát triển kinh tế tổng quát được thể hiện qua quan điểm của Đảng trong 30 năm qua kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI. Qua các kỳ đại hội, quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn, cũng như trong bối cảnh phát triển và hợp tác. hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. việc bổ sung những nhận thức mới này của đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với việc bổ sung những quan điểm, tư tưởng trong hệ thống chính trị chung của đảng.

Đại hội VI của Đảng đánh dấu quá trình đổi mới toàn diện đất nước, trong đó điều quan trọng là đổi mới chính quyền, trước hết là kinh tế. Những tư tưởng về đổi mới kinh tế, xây dựng nền kinh tế phù hợp với thực tiễn Việt Nam tiếp tục được khẳng định, làm rõ và phát triển tại Đại hội Đảng bộ lần thứ VII và các kỳ đại hội tiếp theo. do đó, quan niệm về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành và không ngừng hoàn thiện. Tại đại hội đảng lần thứ VII, lần đầu tiên đảng đưa ra khái niệm định hướng xã hội chủ nghĩa để phát triển kinh tế [11]. tại Đại hội Đảng lần thứ VIII đã làm rõ thêm quan điểm về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời nhấn mạnh phát triển kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội chứ không phải theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đại hội Đảng lần thứ IX đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong đường lối của Đảng khi khẳng định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ chuyển đổi dân chủ. Đại hội IX cũng khẳng định những khiếm khuyết trong nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. do đó, Đại hội Đảng lần thứ IX đã đánh dấu sự thống nhất về ý thức, thể hiện chủ trương phát triển lâu dài và nhất quán của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề quản lý xã hội đóng vai trò cơ bản. quản lý xã hội không những phải dựa trên những quy định của pháp luật phù hợp với thực tế phát triển của đất nước mà còn phải bảo đảm quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. đây cũng là điểm khác biệt, đặc trưng trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta.

do đó, qlptxh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ đơn giản là xây dựng mô hình kinh tế phù hợp mà còn là vấn đề đảm bảo hài hòa trong thực hiện các chính sách tiến bộ và công bằng xã hội để cùng nhau hướng tới mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau 5 năm thực hiện, Đại hội Đảng bộ lần thứ X đánh giá thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng. Đại hội Đảng lần thứ X cũng nêu rõ muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội cần phải xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để tiếp tục xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta xác định tầm quan trọng của việc hoàn thiện thể chế đúng đắn về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở những điểm mấu chốt sau: (i) nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta. ; (ii) nâng cao vai trò và hiệu lực của quản lý nhà nước; (iii) phát triển đồng bộ và quản lý hiệu quả các thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh bình đẳng; (iv) phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế và các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh, trong đó quản lý xã hội phải dựa trên hệ thống pháp luật, hạn chế tối đa các tác động và can thiệp hành chính vào sự phát triển kinh tế của thị trường như tách chức năng quản lý Nhà nước tách khỏi chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, tách hệ thống cơ quan hành chính nhà nước ra khỏi hệ thống cơ quan sự nghiệp … thể hiện sự đổi mới gắn với thực tiễn trong tư duy của đảng về quan hệ xã hội, theo yêu cầu đặt ra của thực tiễn trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết X của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể thấy, tư duy hành chính của Đảng về mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa luôn thể hiện rõ hai đặc điểm. đầu tiên, kiên định mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với thực tiễn đất nước và bối cảnh quốc tế. Thứ hai, gắn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra nhằm bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. tại đại hội đảng bộ lần thứ X, những quan điểm này tiếp tục được khẳng định và làm rõ. trong đó, xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bao gồm các nhiệm vụ chủ yếu sau: (i) giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường; (ii) phát triển các hình thức tài sản, các thành phần kinh tế và các loại hình công ty; (iii) phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường; (iv) nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Văn kiện Đại hội XI nêu rõ, Đảng và Nhà nước cần nâng cao vai trò lãnh đạo, quản lý của kinh tế thị trường. nói cách khác, nó phải có khả năng nâng cao vai trò trong qlptxh gắn với quá trình này. trong đó, việc hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ về mặt quản lý kinh tế mà còn liên quan đến nhiều vấn đề xã hội và môi trường khác. trong điều hành kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tôn trọng các quy luật khách quan của thị trường. trên cơ sở đó, hoạt động hành chính vận dụng, phát huy những mặt tích cực và giảm thiểu, hạn chế những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường. Nói cách khác, quá trình này vừa là quá trình phát triển kinh tế, vừa là quá trình xây dựng và phát triển xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

XEM THÊM:  Inbound & outbound là gì? Tổng quan về Inbound & Outbound trong du lịch | Cohost AI

Đại hội lần thứ XII của Đảng đã đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, tư duy của Đảng trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. trong đó, xác định mục tiêu phát triển kinh tế thị trường đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với các quy luật của kinh tế thị trường. Các mục tiêu này không chỉ thể hiện rõ ràng các khía cạnh kinh tế mà còn thể hiện các mục tiêu xã hội và môi trường, thể hiện tư tưởng phát triển xã hội bền vững và hài hòa. Nói cách khác, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình đa mục tiêu, bảo đảm hài hòa về kinh tế, xã hội và môi trường.

Như vậy, cùng với quá trình phát triển, không ngừng bổ sung và hoàn thiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, những vấn đề về quản lý xã hội theo tư tưởng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội cũng đã được khẳng định và làm rõ. mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không ngừng được bổ sung, làm rõ về tư tưởng và thực tiễn để đạt mục tiêu hoàn thiện đồng bộ theo các chuẩn mực cơ bản vào năm 2020, điều này cũng đồng nghĩa với việc nhận thức, quan điểm của Đảng và Nhà nước trong nền công vụ còn thể hiện sự thống nhất và không ngừng hoàn thiện, không chỉ đối với mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà cả trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung hoạt động qlptxh.

Xem thêm: TẠI SAO SO2 CÓ TÍNH TẨY MÀU

3. qlptxh trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền hiện hành

Nhà nước pháp quyền là một khái niệm xuất hiện khá sớm trong lịch sử loài người và rất phổ biến sau thời kỳ phục hưng. Có nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về khái niệm nhà nước pháp quyền, nhưng về cơ bản các quan niệm này đều thống nhất rằng: nhà nước pháp quyền là mô hình nhà nước hoạt động theo nguyên tắc pháp quyền. Nói cách khác, mô hình nhà nước pháp quyền đòi hỏi sự quản lý sự phát triển của xã hội dựa trên pháp luật, và các cơ quan thực hiện quyền lực pháp luật cũng phải chịu sự điều hành chặt chẽ của pháp luật. Ở mỗi quốc gia, tùy theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể, quan điểm phát triển mà mô hình nhà nước pháp quyền có những đặc điểm khác nhau.

Đối với Việt Nam, thuật ngữ pháp quyền gắn liền với những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội và được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây. Theo các nghiên cứu, thuật ngữ pháp quyền chính thức được sử dụng trong văn kiện đảng vào năm 1994. Sau đó, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi trong các văn bản liên quan cho đến nay, thể hiện rõ tầm quan trọng của đảng. Nhà nước bảo đảm quá trình phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội theo đúng mục tiêu mà Đảng ta đề ra. Trên thực tế, các quan điểm về xây dựng nhà nước pháp quyền đã được Đảng ta ghi nhận và phát triển từ lâu trên cơ sở tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền. tuy nhiên, chỉ đến khi Đảng ta quyết định thực hiện công cuộc đổi mới, quan điểm về xây dựng nhà nước pháp quyền mới được thể hiện rõ nét trong các chủ trương, chính sách và không ngừng được hoàn thiện từ đó đến nay.

Như đã thảo luận ở trên, tầm nhìn của Đảng về nhà nước pháp quyền đã được chính thức tuyên bố tại hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ năm 1994: “Tiếp tục từng bước xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân. toàn dân, trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng ta lãnh đạo. [12] Quan điểm về nhà nước pháp quyền tiếp tục được làm rõ trong nhiều văn kiện, nghị quyết của các đại hội đảng từ Lần thứ 7 đến kỳ 12. đến đại hội lần thứ 10, Đảng ta tiếp tục tuyên bố xác định rõ quan điểm về xây dựng nhà nước d e luật: “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ”. Các chủ trương, chính sách về xây dựng nhà nước pháp quyền tiếp tục được hoàn thiện để phù hợp với tình hình thực tế đất nước. đất nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, xác định những nội dung quan trọng / các nguyên tắc chỉ đạo xây dựng nhà nước pháp quyền, bao gồm: (i) Đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thông qua pháp luật. , (ii) việc hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế hoạt động, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; (iii) hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước cấp bộ; (iv) Đảng xây dựng đội ngũ cán bộ trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Như vậy, có thể thấy, từ năm 1994 đến nay, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Các quan điểm của Đảng ở các giai đoạn phát triển khác nhau về nhà nước pháp quyền cũng được bổ sung và ngày càng hoàn thiện, đặc biệt là vấn đề quản lý nhà nước bằng pháp luật trên cơ sở thực hiện các quyền con người lập pháp, hành pháp và tư pháp. ; đồng thời hướng tới xây dựng và quản lý phát triển xã hội trên cơ sở pháp luật phù hợp với thực tiễn đất nước và thông lệ quốc tế. Trong bối cảnh mới, Đảng ta đã xác định rõ những điều kiện quan trọng để quản lý sự phát triển xã hội bằng quy luật. đó là, xây dựng chính sách pháp luật đầy đủ, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ. Đây là những yếu tố then chốt bảo đảm thực hiện đúng mô hình nhà nước pháp quyền, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

4. qlptxh trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

Hội nhập quốc tế là một khái niệm được dùng trong thời gian gần đây, ban đầu được đề cập chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế quốc tế … quá trình hội nhập quốc tế có nhiều mức độ khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp, tùy thuộc vào các điều kiện và thể chế liên quan. . để tích hợp. hội nhập quốc tế thường bắt nguồn từ hoặc liên quan chặt chẽ đến hội nhập kinh tế. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa các quốc gia, rất ít quốc gia có thể bị rời khỏi tiến trình hội nhập quốc tế. trên thực tế, quá trình này luôn mang lại thách thức và cơ hội cho các quốc gia.

XEM THÊM:  Non xanh nước biếc có nghĩa là gì

ở Việt Nam, thuật ngữ hội nhập quốc tế xuất hiện vào khoảng năm 1990 và được sử dụng ngày càng phổ biến và rộng rãi. Ban đầu, thuật ngữ này thường được giới hạn trong khía cạnh hội nhập kinh tế quốc tế. nhưng khi đó, quá trình hội nhập quốc tế không chỉ là hội nhập kinh tế, mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội. thuật ngữ hội nhập quốc tế được sử dụng phổ biến hơn và phản ánh đầy đủ tất cả các khía cạnh của quá trình này.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của hội nhập kinh tế quốc tế sau thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế. Đại hội IX của Đảng đã xác định chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. sau đó, bộ chính trị cũng ban hành nghị quyết số. 07-nq / tw về hội nhập kinh tế quốc tế. Đại hội Đảng lần thứ 10 đã ghi nhận sự thay đổi lập trường của Đảng về hội nhập quốc tế bằng cách mở rộng sang quan hệ hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác ngoài kinh tế. Sau thời gian hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO và gia nhập một số tổ chức song phương và đa phương khác, vấn đề hội nhập quốc tế ngày càng được các cấp quản lý xã hội quan tâm hơn. do đó, năm 2013, bộ chính trị đã ban hành nghị quyết 22-nq / TW về hội nhập quốc tế. trong đó, quan điểm của Đảng ta về hội nhập quốc tế là: “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì hòa bình và hòa bình. ” , hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, nắm vững và vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm, quản lý tốt các mối quan hệ chính đã được đúc kết trong Cương lĩnh ”. Đảng ta cũng xác định nhiệm vụ trọng tâm trong hội nhập quốc tế là: “hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác tạo điều kiện cho hội nhập kinh tế và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế”. kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trên các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong chiến lược hội nhập quốc tế toàn cầu với lộ trình và bước đi phù hợp với điều kiện và năng lực thực tế của đất nước ”. Những quan điểm này thể hiện rõ nhận thức sâu sắc của Đảng về vấn đề hội nhập quốc tế để lãnh đạo, chỉ đạo quá trình phát triển và quản lý phát triển xã hội của đất nước.

5. qlptxh trong điều kiện hiện nay của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra từ những năm 2000 đến nay là cuộc cách mạng kỹ thuật số, thông qua các công nghệ như internet vạn vật (iot), trí tuệ nhân tạo (ia), thực tế ảo (vr), thực tế ảo tương tác ( ar), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn (smac) … để biến toàn bộ thế giới thực thành thế giới kỹ thuật số.

cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là cuộc cách mạng xảy ra với tốc độ nhanh hơn các cuộc cách mạng trước, ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ xã hội, hệ thống xã hội và nền tảng của lãnh thổ: chỉ đạo, quản lý, điều hành. cuộc cách mạng này mang lại nhiều cơ hội, nhưng cũng tạo ra nhiều thách thức cho các quốc gia trong quá trình quản lý phát triển xã hội. trên thực tế, điều này đã được dự đoán bởi nhiều nhà khoa học cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 20, các nhà lý thuyết quản lý và lãnh đạo [8, và 9,]. tất cả đều ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động quản lý, lãnh đạo trong mọi tổ chức, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. chúng ta có thể thấy những hiệu ứng chính sau:

i) cuộc cách mạng này buộc chúng ta phải thay đổi tất cả các giả định được đưa ra trong thế kỷ 20, cả về lý thuyết và hoạt động thực tiễn của lãnh đạo và quản lý. nhiều giả định từng bị lung lay trong thời đại công nghiệp không còn giá trị và phải được thay thế bằng những giả định mới.

Xem ngay: Tại sao có nốt ruồi trên mặt

ii) cuộc cách mạng này buộc chúng ta phải có một cách nhìn mới về vấn đề con người. thời đại công nghiệp cho phép chúng ta kiểm soát con người trên dây chuyền sản xuất, ngay cả khi con người bị ràng buộc vào dây chuyền đó như một phần của hệ thống đó. ngày nay, trong cuộc cách mạng mới, chúng ta chỉ có thể quản lý con người, động viên những người lao động tri thức, để họ tự nguyện tham gia vào quá trình làm việc.

iii) Trong kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhiều tổ chức mới, tổ chức ảo, đòi hỏi một hình thức lãnh đạo và quản lý mới. thế giới thực trong thế giới ảo đang làm đau đầu nhiều nhà lãnh đạo, quản lý. sự phát triển của trí tuệ nhân tạo cũng đang thách thức trí tuệ con người trong quá trình lãnh đạo và quản lý.

iv) cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư buộc các nhà lãnh đạo, quản lý phải thay đổi ngay nhiều công cụ, phương tiện để lãnh đạo và quản lý. hệ thống bảo đảm thông tin và an toàn thông tin trở thành một vấn đề lớn trong điều kiện hiện nay. rò rỉ thông tin gần đây được phân loại theo quốc gia cảnh báo về nguy cơ có thể lớn hơn.

Về cơ bản, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là một bước tiến quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người, tạo ra nhiều cơ hội mới cho con người phát huy hết tiềm năng của mình để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. tuy nhiên, nó cũng mang đến những thách thức và rủi ro mới cho quá trình phát triển. quản lý phát triển xã hội trong bối cảnh này phải đối mặt với những cơ hội và thách thức mới. lãnh đạo cần xây dựng và phát triển văn hóa lãnh đạo phù hợp với điều kiện mới, đưa tổ chức, cộng đồng và quốc gia phát triển mạnh mẽ hơn.

Dưới tác động của cuộc cách mạng lần thứ tư, trong quá trình quản lý, lãnh đạo cần tập trung giải quyết những vấn đề chính sau:

i) thay đổi tư duy lãnh đạo và quản lý để thích ứng với các điều kiện mới.

ii) thay đổi phương thức lãnh đạo và quản lý trong các tổ chức, đặc biệt là với các loại hình tổ chức mới được hình thành trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

iv) đánh giá lại triết lý lãnh đạo, quản lý, hệ thống giá trị cốt lõi, tạo biểu trưng mới.

v) xây dựng phong cách lãnh đạo và quản lý mới phù hợp với các triết lý mới và các tiêu chuẩn giá trị mới.

vi) hình thành các tiêu chuẩn đạo đức mới về lãnh đạo và quản lý và thực hiện chúng trong các tổ chức cụ thể.

Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, cần tập trung giải quyết đồng bộ các vấn đề theo nguyên tắc mới của quản lý xã hội. Một mặt, cần có trình độ thạc sĩ quốc gia và chiến lược quốc gia trong các lĩnh vực cụ thể để thích ứng với điều kiện mới. mặt khác, cũng cần làm rõ sự khác biệt trong giải quyết vấn đề ở các lĩnh vực khác nhau, với phạm vi và quy mô khác nhau. Những thay đổi của Chính phủ Việt Nam trong quản lý nhà nước, quá trình cải cách hành chính, nhất thể hóa các chức danh chủ chốt, hợp lý hóa bộ máy, hợp lý hóa biên chế, phát huy vai trò của nhân dân và cộng đồng trong quản lý xã hội đang mở ra những bước phát triển mới các khả năng trong quản lý xã hội. mối quan hệ giữa chính quyền, doanh nghiệp và người dân ngày càng tốt hơn, là động lực thúc đẩy quá trình phát triển xã hội và quản lý sự phát triển của xã hội. đổi mới quản lý phát triển xã hội trong điều kiện hiện nay là yêu cầu cấp thiết của thời kỳ mới đối với tất cả các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. /.

pgs.ts pham ngoc thanh [13]

Xem ngay: Kỹ năng làm việc theo nhóm là gì

Vậy là đến đây bài viết về Quản lý phát triển xã hội là gì đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website VCCIDATA.COM.VN

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button