Hỏi đáp

đặc tính của đất phù sa là gì

Bạn đang quan tâm đến đặc tính của đất phù sa là gì phải không? Nào hãy cùng VCCIDATA đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

XEM VIDEO đặc tính của đất phù sa là gì tại đây.

Ngày 30 tháng 12 năm 2013

Đất phèn là loại đất chứa nhiều rễ sunfat (SO42-) và có độ pH rất thấp, chỉ khoảng 2-3. Đất chua ở An Giang phân bố rộng rãi ở khu vực giáp ranh tỉnh Kiến Giang, thuộc địa phận các huyện tri tấn, tinh biên và một phần châu phú, với tổng diện tích khoảng 30.136 ha, trong đó tri tấn chiếm 67 %. nhóm đất này được hình thành do quá trình tiến của biển cách đây 6.000 năm, đặc biệt là ở xung quanh các vũng, vịnh cạn, trên đó các loài cây ngập mặn như đước, sú, cá phát triển mạnh mẽ … các loài thực vật này thường tích tụ lưu huỳnh trong thân và rễ cây dưới dạng các hợp chất hữu cơ. Khi những khu rừng này bị chôn vùi, xác của chúng sẽ bị phân hủy bởi các vi sinh vật kỵ khí và giải phóng lưu huỳnh ra môi trường dưới dạng sulfit. chúng kết hợp với các ion kim loại sắt và nhôm vừa được dòng nước từ lục địa đưa vào tạo thành các lớp đất chứa nhiều pyrit. pyrit chứa trong trầm tích đầm lầy còn được gọi là phèn tiềm tàng, nhưng chúng dễ bị oxy hóa trong điều kiện tiếp xúc. Căn cứ vào nguồn gốc và mức độ nhiễm phèn của đất, có thể chia đất phèn An Giang thành các lớp đất phèn (có khả năng nhiễm phèn), tầng than bùn chứa phèn, đất chua, đất nhiễm phèn. . phèn chua.

nhóm đất chua tiềm ẩn chua:

Bạn đang xem: đặc tính của đất phù sa là gì

ở An Giang, bệnh xảy ra chủ yếu ở các xã vông thế, vông đồng (thao sơn), long vi, thanh mỹ tay (châu phú), tân tuy, tân danh (tri tấn), tân lợi (tân loi (tri ton), tan loi (tri ton), tan loi (tan loi), tinh bien)… tuy nhiên, tùy thuộc vào địa hình, độ dày của lớp trên của lớp phủ và mức độ sinh phèn khác nhau, trong a xã như vinh phú, giang giang, tay phú, vông phèn ở độ sâu cách đất 80-100 cm, càng đi về phía tây nam độ dày lớp phủ càng giảm, lớp phèn sẽ xuất hiện gần hơn với hầu hết các loại đất phèn tiềm tàng, có thành phần chủ yếu là sét (40,83%), bụi 45,13%, cát mịn 4,15%.

sàn phèn:

Đây là vùng đất chưa phát triển, có phèn rất hoạt động, bên dưới là tầng sinh phèn. loài này phân bố ở các thung lũng hẹp ở phía tây và phía đông của bảy ngọn núi. chúng tạo thành một vành đai miền núi gần như khép kín, bắt đầu từ kênh vinh te qua rạch Nặm, chảy qua thung lũng giữa núi Lạc Quới và núi Phú Cưu đến một con kênh mới, chạy dọc theo con kênh tám nghìn nối qua triton. chủ yếu là đất sét, chiếm 41,31%, bụi 36,68% và cát 4,75%.

đất ít chua hơn:

bao gồm đất phù sa phát triển bị nhiễm phèn và đất đã trưởng thành và rửa trôi bị ô nhiễm cao. loại này thường phân bố ở những nơi có chân đất tương đối cao, được phù sa bồi đắp nhiều nên lớp phèn tiềm tàng bên dưới bị bao phủ khá dày (80-100 cm), khả năng nhiễm phèn là tối thiểu. Ngoài ra, những vùng đất trước đây bị nhiễm phèn nhưng do địa hình cao, khả năng rửa trôi tốt nên đất dần trở nên ít chua, thành phần hạt của hàm lượng sét trong loại đất này rất cao (60-63), 9%), ít bột và cát, chứng tỏ đất có khả năng thoát nước kém, thấm nước và chặt, phân bố dọc theo chân núi Cô Tô, ranh giới hai huyện Thoại Sơn và Tạm Biệt.

XEM THÊM:  Làm thế nào khi quên tên truy cập Internet Banking Vietcombank?

đất than bùn phèn:

Đất này được đặc trưng bởi một lớp than bùn dày, xốp bên dưới thường phân bố dọc theo các thung lũng sông cổ, dốc. trong đất than bùn, hàm lượng khoáng tương đối thấp và nghèo, nhưng hàm lượng nitơ rất cao; phân bố dọc theo thung lũng sông cổ ở tri tấn, ven rừng tràm tra su, một số ở xã luồng an tra, tân danh.

Đất phù sa An Giang có nguồn gốc và môi trường trầm tích đa dạng, do nhiều yếu tố tác động đến môi trường trầm tích, kích thước của lớp trầm tích, chế độ trầm tích và vật liệu trầm tích đã tạo nên. Đặc điểm chung của đất phù sa ở đây là chứa nhiều chất hữu cơ, độ pH thấp, ít bị phong hóa, xói mòn nhưng chủ yếu được bồi lắng hàng năm với mức độ khác nhau trong các điều kiện trầm tích khác nhau. diện tích khoảng 1.354 ha. có 2 đơn vị trầm tích: bãi lũ lộ thiên và bãi lũ trung tâm, vùng ngập lũ lộ thiên được đặc trưng bởi nền đất thấp hơn khi di chuyển ra xa sông và bị chi phối mạnh bởi nước lũ. nhóm đất phù sa vùng ngập lũ

Vùng ngập lũ trung tâm giữa sông Tiền và sông Hậu có độ dày lớn do đáy bị sụt lún liên tục và lượng phù sa lớn. ở An Giang, nhóm đất phù sa chiếm 44,27% tổng số. Diện tích đất toàn tỉnh khoảng 156.507 ha, phân bố chủ yếu ở các huyện Châu Thành, Châu Phú, Tân Phú, An Phú, Tân Châu, Thoại Sơn, Chợ Mới và một phần thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc. . nhóm đất này bao gồm các nhóm sau:

đất cồn:

phân bố chủ yếu ven sông Tiền, sông Hậu và một phần nhỏ ở ven sông, bao gồm các bãi sông, cồn sông. Đất được bồi đắp bởi phù sa của sông Tiền và sông Hậu, có hàm lượng dinh dưỡng cao, không có ion độc hại cho cây trồng, hiện nay, trên địa bàn tỉnh An Giang có 22 cồn sông. vùng đồng bằng ngập lũ đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, người dân địa phương gọi là các cồn như cù lao mỡ, cù lao tiên ở vinh hòa, cù lao mỹ, cù lao khánh bình xã khánh hòa … những cù lao đã được hình thành cho một thời gian dài. đời sống, nó có diện tích rộng lớn như đảo ong hổ, đảo pho ba, đảo bắc nam, đảo ka tam giác và đảo bình thủy. Theo thống kê của tỉnh, có các cồn và cù lao như sau:

– về dòng sông tiền bạc:

Xem thêm: Giao tiếp là gì? Vai trò, chức năng, phân loại & Kỹ năng giao tiếp – LyTuong.net

+ cồn ở xã vinh hòa, huyện tân châu.

+ cồn cát xã vinh hòa, huyện tân châu. + cồn béo xã vinh hòa huyện tân châu. + cồn xã phú an huyện phú tân. + Cù lao Giêng gồm 3 xã: tấn mỹ, mỹ hạp, bình phú xuân, huyện chợ mới. + Cù lao phía Bắc cù lao Giêng xã tân mỹ (chợ mới). + cù lao Mỹ Luồng, huyện chợ mới. – Trên sông hâu: + cù lao vinh lộc thuộc xã vinh lộc, huyện tân châu. + đảo bắc nam thuộc xã phú hào, quốc thái, huyện an phú. cù lao ba thuộc xã vinh trường, huyện an phú. + Cù lao cỏ xã vinh trường (an phú). + Cù lao Hà Bào nằm ở phía nam cù lao Vĩnh Trường (An Phú). + Đảo ka tam bong (hay còn gọi là đảo khánh hòa). + Cù lao khánh bình nằm ở phía bắc đảo ka tam bong thuộc xã khánh an.

XEM THÊM:  TRỢ ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG ANH: CÁCH SỬ DỤNG VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH

+ Cù lao Bình Thủy nằm giữa kênh nang và sông Hâu thuộc xã Bình Thủy, huyện Châu Phú. + Cù lao Thị Hòa (còn gọi là cù lao Ba Hoa) thuộc xã Bình Thạnh, huyện Châu Thành.

+ Đảo ong hổ (hay còn gọi là đảo mỹ hưng) ở thành phố long xuyên. + Ba ở ấp mỹ thanh, xã mỹ hưng. + với phở hơn ở phường long mỹ, thành phố long xuyên. + Cù lao Tiên nằm về phía đông bắc của cù lao Mỹ Hòa Hưng, xã Mỹ Hòa Hưng. + cồn an thanh thuộc xã hòa bình, khu chợ mới.

– trên sông:

+ Cù lao tân hòa thuộc xã tân hòa, huyện phú tân. – An giang có khoảng 13 con sông:

+ in the tien River, co the vinh xuong river, vinh hoa doi, long son doi, cho vam doi, kien an doi. + Trên sông hau có các khu đô thị hùng vĩ, khu đô thị, khu hộ khẩu, khu dân cư, khu đô thị, khu phú bình, khu đô thị binh. .

Đây là vùng đất có nguồn gốc phù sa phù sa, được xếp vào loại đất phù sa nâu tươi, thoát nước tốt.

– Nhóm đất phù sa màu nâu xám tích tụ, ít chất hữu cơ: nhóm đất phù sa này chiếm diện tích khá lớn ở 4 huyện cù lao:

chợ mới, phú tân, an phú, tân châu và cánh đồng ven sông hâu thuộc huyện má phú, huyện châu thành. đây là phần đất bị ngập úng hàng năm vào mùa lũ, đất khá bằng phẳng và trải rộng, vật liệu trầm tích chủ yếu là sét, bụi, lẫn nhiều chất hữu cơ, chiều dày của lớp phù sa 1-2. m đất này chiếm diện tích khoảng 24.455 ha, chủ yếu để trồng lúa 2 vụ.

Xem ngay: Cải tạo quan hệ sản xuất là gì

– Nhóm đất phù sa màu nâu xám ít tích tụ: nhóm đất này thường phân bố ở các vùng đất thấp, độ cao từ 1,0 đến 1,2 m, đôi khi là chỗ trũng cục bộ 0,8 đến 1 m, thường ở các ruộng sâu trong đất liền, cách sông Hậu, sông Tiền, kênh Long Xuyên. đất có độ phát triển cao từ tầng mặt đến độ sâu 60 cm, nhưng ngược lại ở tầng dưới, do đặc điểm của vùng ngập nước nên đất vẫn ở trạng thái tốt. Nhóm đất này có diện tích khoảng 44.525ha, trong đó tập trung ở ngoại ô các xã: Ô long vi, đạo huân canh, thanh mỹ tay (châu phú), tân điền (tinh biên), vinh an, tan phu (chau thanh), tay phu, vinh nhuan, vinh phu (tho son), a little part of new for district and chau doc ​​city.

– Nhóm đất phù sa phèn: phân bố chủ yếu ở các huyện: Châu Thành, Châu Phú, Thọ Sơn, Tri tấn với tổng diện tích 84.872ha, chiếm 24,7% tổng diện tích đất trồng của cả nước. địa bàn tỉnh. . đất chủ yếu từ chân đê trở xuống, nền thấp 0,8-1m và khá bằng phẳng, tùy theo mức độ phèn và sự phát triển có thể chia nhóm đất này thành:

+ Đất phù sa phèn trung bình, ít bồi tụ, kém phát triển.- Đất phù sa chua trung bình, ít bồi tụ phát triển. + Đất có phản ứng hơi chua, pH 4,7-5,5, đặc biệt hàm lượng nhôm di động và tổng độ chua tăng nhanh từ độ sâu 90 cm. Nhóm đất này chủ yếu thuộc vùng đất thấp, mức độ bồi tụ yếu.

XEM THÊM:  Giao thừa là gì? Những phong tục truyền thống cần biết

– Nhóm đất phù sa cổ: có tổng diện tích khoảng 94.446 ha, chiếm 27,68% tổng diện tích đất ở An Giang, phân bố chủ yếu ở những nơi có chân đất cao (ruộng trên) thuộc 2 huyện. và độ tinh khiết. chúng tạo thành đồng bằng quanh núi như vùng quanh núi dài, núi cấm, ruộng ven kênh vinh te giáp ranh cpc đất phù sa cũ không độc cho cây trồng nhưng nghèo dinh dưỡng và thoát nước. tuy nhiên do ảnh hưởng phù sa mới của sông hau, qua lũ lụt đã hình thành một lớp bề mặt mới, lẫn nhiều chất hữu cơ thứ sinh, tạo thành lớp tích tụ mùn khá dày, thích hợp cho cây trồng.

nhóm đất trên núi

là nhóm đất được hình thành từ quá trình phong hóa và xói mòn của các đồi đá. sau đó bị dòng lũ cuốn đi và tích tụ trong các đai đất xung quanh núi dưới các dạng: phù sa yếm, chùy, xói mòn, xói mòn đất. Đất đồi núi phân bố chủ yếu ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh. tốt, một phần nhỏ ở huyện Sơn Sơn (khu vực nhà tắm). Tổng diện tích đất miền núi của An Giang khoảng 29.320 ha, chiếm 8,6% tổng diện tích đất toàn tỉnh. Địa hình đồi núi được phân thành các dạng sau:

đất tích tụ tại chỗ:

đất bị xói mòn chủ yếu từ lớp đá gốc và trầm tích tại chỗ dọc theo các sườn núi. tùy theo địa hình dốc hay không bằng phẳng mà độ dày của sườn khác nhau, nhưng nhìn chung không quá 5 m. Đất xói mòn ở núi Cấm, núi Phú Cường, núi Tà Pạ, núi Đất có độ dày tương đối giàu dinh dưỡng và thành phần cơ giới lớn, tỷ lệ cát / sét tương đối thấp 1,25-1,8. ngược lại, đất dốc của vùng núi có cấu tạo granit thường nghèo dinh dưỡng, tỷ lệ cát và sét 2,5 – 2,8, nhìn chung cát chiếm 68 – 70%. loài này phân bố nhiều ở núi co, núi nhỏ và dài, sơn tra, núi ba dọi, núi kết …

đất phù sa:

Đất phù sa thường có tỷ lệ đất sét cao lanh thấp. Đây là dạng địa hình phân bố theo vành đai thấp kéo dài từ chân đồi đến ba chuc, le tri (tri ton). thành phần chủ yếu là sét, hỗn hợp sét, thường có hàm lượng chất hữu cơ cao. mặt đất có màu xám đen.

đất nền cao:

là một loại đất cát pha, phân bố quanh chân núi mà dân gian gọi là đất “ruộng cao”, phân bố chủ yếu theo dãy ruộng ven chân núi dài, núi cấm và vành đai xung quanh nhóm. của núi dài và núi ket. Núi Trà Sư thuộc các xã Văn Giáo, Thới Sơn, An Cư, Xuân Tô (Tịnh Biên) và các xã Châu Lăng, Núi Tô (Tri Tôn). Đất ven thung lũng, khe núi: gồm cát, đá cuội để lại trên núi do mưa lũ, tích tụ dọc theo thung lũng, khe núi. Nó thường phân bố ở các bậc thang, càng xuống núi càng rộng. đất chủ yếu là cát pha, lẫn một ít chất hữu cơ, phân bố ở các xã luồng phi, châu lang, lê tri (thung lũng giữa núi cấm và núi dài), tụ cư, nhân hưng, văn giao (địa tinh ). cạnh).

Xem thêm: Lòng bàn tay bị ngứa là bệnh gì

Vậy là đến đây bài viết về đặc tính của đất phù sa là gì đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website VCCIDATA.COM.VN

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button